Tin tức

Tin tức (297)

          Nhân dịp kỷ niệm 71 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Triều Tiên (31/01/1950 -31/01/2021). Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn giới thiệu một số hình ảnh, hiện vật về chuyến thăm chính thức Việt Nam của Chủ tịch triều Tiên Kim Châng Ưn. Nhằm ôn lại truyền thống hữu nghị giữa Việt Nam và Triều Tiên trong suốt 71 năm qua và khẳng định Lạng Sơn rất vinh dự và tự hào là điểm đầu tiên được đón và tiễn Chủ tịch Đảng Lao động Triều Tiên Kim Châng Ưn nhân dịp Hội nghị thưởng đỉnh Mỹ - Triều và thăm chính thức Việt Nam tháng 3/2019. Gian trưng bày là một hoạt động thiết thực góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ phát huy truyền thống hữu nghị hợp tác giữa hai nước.

 Một số hình ảnh về chủ tịch Kim Châng Ưn tại tỉnh Lạng Sơn:

 u1

Đúng 8 giờ 30 phút, ngày 26/02/2019 đoàn tàu bọc thép chở Chủ tịch Kim Châng Ưn

đến Ga quốc tế Đồng Đăng, Lạng Sơn

 

 u2

Tặng hoa, chào mừng Chủ tịch Kim Châng Ưn và đoàn đại biểu Triều Tiên đến thăm Việt Nam, tại Ga quốc tế Đồng Đăng

 

u3

Đồng chí Võ Văn Thưởng Uy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương tiễn Chủ tịch Kim Châng Ưn

tại Ga quốc tế Đồng Đăng Chủ tịch Kim Châng Ưn hạ kính xe vẫy tay chàonhân dân bên ngoài nhà Ga quốc tế Đồng Đăng

 

u4

 Chủ tịch Kim Châng Ưn hạ kính xe vẫy tay chàonhân dân bên ngoài nhà Ga quốc tế Đồng Đăng


u5

Chủ tịch Kim Châng Ưn vẫy chào các đại biểu và người dân Lạng Sơntại Ga quốc tế Đồng Đăng

 

u6

Chủ tịch Kim Châng Ưn chào tạm biệt đại biểu và Nhân dân các dân tộc tinh Lạng Sơn ra tiễn

tại Ga quốc tế Đồng Đăng trước khi lên tàu rời Việt Nam

 

Một số hình ảnh khách tham quan gian triển lãm:

Kim Un 33

Đồng chí Dương Xuân Huyên - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn  phát biểu 

tại Lễ khánh thành gian trưng bày hình ảnh, hiện vật về chuyến thăm chính thức Việt Nam

của Chủ tịch Triều Tiên Kim Châng Ưn

 

 u8

 Các đồng chí lãnh đạo cắt băng khánh thành gian trưng bày

  

 u9

Các đồng chí lãnh đạo tham quan gian trưng bày chuyên đề


kim Un 66

Các đồng chí lãnh đạo tham quan gian trưng bày cố định tại Bảo tàng

 

Kim Un 52

Các đồng chí lãnh đạo chụp ảnh lưu niệm tại Bảo tàng 

 

u12 

Học sinh trường tiểu học và Trung học cơ sở Thống Nhất, xã Thống Nhất, huyện Lộc Bình

đã đến tham quan, học tập và chụp ảnh lưu niệm tại gian triển lãm

   

  u13

Học sinh các trường mầm non trên địa bàn huyện Chi Lăng chụp ảnh lưu niệm tại gian triển lãm

 

u14 

Học sinh trường Trung học cơ sở Tân Mỹ, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng đã đến tham quan, học tập tại gian triển lãm

 

 u15

Học sinh trường Trung học cơ sở Tân Mỹ, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng đã đến tham quan, học tập tại gian triển lãm

 

 

 u16

Học sinh trường Trung học cơ sở Tân Mỹ, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng đã đến tham quan, học tập tại gian triển lãm


Hoàng Minh Nguyệt

 

 

Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn ngày 27/7/1940 là một sự kiện lịch sử có ý nghĩa đặc biệt của đất nước “Là tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng vũ lực của các dân tộc Đông Dương”[1]. Khởi nghĩa Bắc Sơn mở đầu cho một thời kỳ mới của Cách mạng nước ta - thời kỳ sử dụng bạo lực cách mạng, đấu tranh đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, tiến tới tổng khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân. Tiếp nối Bắc Sơn, nhiều cuộc khởi nghĩa, bạo động vũ trang đã nổ ra trên khắp mọi miền đất nước: khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940), khởi nghĩa Đô Lương (1/1941), cao trào kháng Nhật cứu nước… Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn là thành quả to lớn của Cách mạng Việt Nam, là kết quả của quá trình xây dựng lực lượng, đấu tranh cách mạng lâu dài gắn liền với sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng, sự cống hiến, hy sinh của các chiến sỹ cách mạng và nhân dân. Trong đó có đồng chí Lương Văn Tri – người con ưu tú của quê hương Văn Quan, xứ Lạng, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, chỉ huy trưởng đội du kích Bắc Sơn, Chỉ huy trưởng - Chính trị viên đội Cứu quốc quân I. Đóng góp, cống hiến của đồng chí đối với khởi nghĩa Bắc Sơn tập trung, thể hiện rõ nét ở thời kỳ xây dựng phát triển phong trào Cách mạng Bắc Sơn và củng cố, duy trì lực lượng sau khởi nghĩa. Đó cũng chính là khoảng thời gian đồng chí trực tiếp hoạt động ở đây.

         Đồng chí Lương Văn Tri, người dân tộc Tày, sinh ngày 13 tháng 7 năm Canh Tuất (tức ngày 17/8/1910) tại làng Bản Hẻo, tổng Mỹ Liệt, châu Văn Uyên, tỉnh Lạng Sơn (nay là thôn Bản Hẻo, xã Trấn Ninh, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn).                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                           Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, hiếu học, có tinh thần yêu nước, thương dân, đồng chí đã sớm mang trong mình tình yêu quê hương đất nước cùng những hoài bão, ước vọng lớn lao của tuổi trẻ. Những năm học tập dưới mái trường Tiểu học Pháp – Việt (thị xã Lạng Sơn), đồng chí đã cùng với người bạn học thân thiết, cùng chí hướng là Hoàng Văn Thụ (quê ở bản Phạc Lạn, xã Nhân Lý, châu Văn Uyên) tích cực tham gia hoạt động yêu nước, trở thành những hạt nhân, nòng cốt của phong trào. Hoàng Văn Thụ, Lương Văn Tri đã đứng ra lập nên nhóm thanh niên yêu nước của trường, tham gia các các hoạt động: nghiên cứu, tìm đọc báo Thanh Niên, tuyên truyền tài liệu của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên trên địa bàn thị xã, đấu tranh đòi thả nhà yêu nước Phan Bội Châu (1925), để tang nhà yêu nước Phan Chu Trinh (1926) do Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên phát động trong cả nước... Tháng Giêng năm 1928, đồng chí Lương Văn Tri đã cùng với người bạn học cùng chí hướng Hoàng Văn Thụ vượt qua biên giới tìm đến liên lạc với tổ chức Việt Nam cách mạng thanh niên hội ở Bản Đảy (Bằng Tường, Trung Quốc). Thời kỳ 1928- 1936, đồng chí đã tham gia hoạt động Cách mạng, học tập ở thị trấn Long Châu, Nam Ninh, Quảng Châu… (Trung Quốc). Tại đây, đồng chí đã được kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (năm 1928), Đông Dương Cộng sản Đảng - một trong các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam (Tháng 12/1929). Ngày 3/2/1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trên cơ sở hợp nhất ba tổ chức cộng sản: Đông dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương cộng sản liên đoàn thì đồng chí Lương Văn Tri và Hoàng Văn Thụ của Lạng Sơn đã trở thành những đảng viên đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng chí đã có nhiều hoạt động tích cực ở Trung Quốc: xây dựng cơ sở quần chúng trung kiên, các trạm liên lạc bí mật ở Long Châu (Nam Ninh), tham gia tổ chức huấn luyện, đào tạo cán bộ làm nòng cốt cho phong trào Cách mạng của Lạng Sơn, Cao Bằng (1930-1931)... Đồng thời tuyên truyền, vận động, xây dựng những cơ sở cách mạng đầu tiên ở Khưa Đa, Ma Mèo, Tà Lài (Văn Uyên) - đặt nền móng, tạo tiền đề cho hoạt động Cách mạng của tỉnh Lạng Sơn. Được sự tín nhiệm của tổ chức Đảng, thời kỳ 1931-1935 đồng chí Lương Văn Tri được cử đi học tại Trường Quân sự Hoàng Phố tại Quảng Châu để đưa trở về Việt Nam hoạt động. Sau khi tốt nghiệp xuất sắc trường Quân sự Hoàng Phố, năm 1936, thực hiện chủ trương của Đảng, đồng chí đã trở về Lạng Sơn cùng với đồng chí Hoàng Văn Thụ, Mã Khánh Phương để xây dựng, phát triển phong trào cách mạng của tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên. Bắc Sơn là điểm đến đầu tiên của đồng chí khi trở về hoạt động Cách mạng ở trong nước sau những tháng ngày bôn ba ở hải ngoại. Viết về sự kiện này, sách “Đời hoạt động Cách mạng của chí Lương Văn Tri” do Ban chấp hành Đảng bộ huyện Văn Quan xuất bản năm viết: “Khoảng tháng 5/1936, đồng chí Hoàng Văn Thụ, Lương Văn Tri, Mã Khánh Phương được Đảng cử vào Bắc Sơn gây dựng cơ sở Cách mạng”.[2] Cũng cuốn sách trên cho biết, sáng ngày 8/5/1936, đồng chí đã đến điểm hẹn với đồng chí Hoàng Văn Thụ tại bến đò Bản Thẳm (Song Giang, Văn Quan) để cùng nhau đi vào Bắc Sơn hoạt động. Đây chính là thời điểm quan trọng ghi mốc dấu thời gian bắt đầu hoạt động của đồng chí ở Bắc Sơn. Bằng những kiến thức chính trị, quân sự đã được đào tạo bài bản ở Trung Quốc, cùng với kinh nghiệm nhiều năm hoạt động ở vùng biên giới Việt - Trung, đồng chí đã có nhiều hoạt động tích cực, những đóng góp xuất sắc đối với phong trào Cách mạng của Bắc Sơn nói chung và cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn nói riêng. Vai trò, đóng góp của đồng chí đối với khởi nghĩa Bắc Sơn được thể hiện rõ nét ở những góc độ sau:

          1. Trực tiếp xây dựng cơ sở quần chúng trung kiên, làm nòng cốt cho phong trào Cách mạng:  

          Ngay sau khi đến Bắc Sơn, đồng chí Lương Văn Tri đã cùng đồng chí Hoàng Văn Thụ tới Vũ Lăng – nơi có những người họ hàng thân thích của đồng chí Mã Khánh Phương như Mã Viết Thốn, Mã Viết Linh… để gây dựng và phát triển cơ sở quần chúng. Dựa vào các mối quan hệ quen biết đó, các đồng chí đã tích cực tổ chức tuyên truyền, giác ngộ quần chúng; vận động, tập hợp quần chúng trung kiên làm nòng cốt cho phát triển phong trào cách mạng. Bên cạnh đó, được sự hỗ trợ tích cực của nhóm thanh niên yêu nước như Đường Kỳ Tân, Nguyễn Văn Phòng (tức Mai Huyền), Hoàng Doãn Tạo (tức Hà Khai Lạc), Đường Văn Tư…, các đồng chí đã tiếp tục phát triển, mở rộng việc xây dựng cơ sở quần chúng sang các xã lân cận như Vũ Lễ, Hữu Vĩnh, Ngư Viễn, Vũ Sơn, Hưng Vũ… Các cơ sở quần chúng trên đây là “cánh tay” tin cậy của Đảng, góp phần quan trọng trong việc hình thành địa bàn cách mạng, mạng lưới liên lạc, tạo thuận lợi cho Xứ ủy Bắc Kỳ trong việc chỉ đạo phong trào Cách mạng ở Bắc Sơn và ba tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên. Phong trào phát triển mạnh mẽ góp phần tạo nên thời cơ khởi nghĩa. Ngay trong ngày khởi nghĩa, các cơ sở quần chúng trung kiên chính là những nhân tố tích cực, là lực lượng nòng cốt tạo nên sức mạnh quần chúng lật đổ chính quyền thực dân phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân.

          2. Xây dựng và phát triển cơ sở Đảng để chỉ đạo phong trào Cách mạng và chỉ huy khởi nghĩa:

          Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đối với phong trào Cách mạng nói chung và khởi nghĩa Bắc Sơn nói riêng. Bởi nếu không có tổ chức Đảng mạnh, vững chắc thì khó có thể có cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã đi vào lịch sử đó. Chi bộ đảng, các đồng chí đảng viên ở Bắc Sơn là những người lĩnh hội và triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng. Đồng thời quyết định thời gian, phương thức tiến hành khởi nghĩa. Do vậy công tác xây dựng cơ sở Đảng ở Bắc Sơn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn ngày 27/9/1940.

          Song song với việc xây dựng các cơ sở quần chúng, đồng chí Lương Văn Tri và các đồng chí của mình đã xúc tiến việc thành lập các tổ chức Đảng. Họ đã giao nhiệm vụ phát triển cơ sở Đảng cho anh Đường Văn Thông – lúc này đang hoạt động tích cực ở Vũ Lăng. Công tác bồi dưỡng các thanh niên, quần chúng ưu tú được chú trọng. Qua quá trình rèn luyện, thử thách, ngày 25/9/1936, tại thôn Mỏ Tát (xã Vũ Lăng), đồng chí Hoàng Văn Thụ đã tổ chức kết nạp Đảng viên, tuyên bố thành lập chi bộ đảng đầu tiên ở Bắc Sơn gồm 4 đồng chí: Đường Kỳ Tân, Nguyễn Văn Phòng (tức Mai Huyền), Hoàng Doãn Tạo (tức Hà Khai Lạc), Đường Văn Tư. Đồng chí Đường Kỳ Tân được cử là Bí thư. Đây là một trong hai chi bộ đảng được thành lập sớm nhất ở Lạng Sơn (sau chi bộ Thụy Hùng ở Văn Uyên). Từ đây, Bắc Sơn đã có chi bộ Đảng lãnh đạo các cuộc đấu tranh ở địa phương một cách có tổ chức. Từ hạt nhân đó tiếp tục phát triển đảng ở các xã khác của châu Bắc Sơn.

          Cuối năm 1936 đến giữa năm 1938 là khoảng thời gian đồng chí Lương Văn Tri trực tiếp hoạt động tại địa bàn Bắc Sơn. Dưới sự lãnh đạo, tổ chức của đồng chí Hoàng Văn Thụ, Lương Văn Tri và đồng chí Lê Xuân Thụ (do xứ ủy Bắc Kỳ cử về), công tác xây dựng cơ sở Đảng ở Bắc Sơn chú trọng, đẩy mạnh. Bên cạnh việc củng cố, kiện toàn chi bộ Bắc Sơn ngày càng vững mạng, các đồng chí đã tăng cường, mở rộng các cơ sở đảng ở châu Bắc Sơn. Sách Lịch sử đấu tranh Cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Bắc Sơn (1930-1945) cho biết: “Chi bộ Bắc Sơn đã được củng cố kiện toàn về cả chất lượng lẫn số lượng. Các tổ chức Đảng và phong trào của nhân dân Bắc Sơn đã phát triển cả bề rộng lẫn cả bề sâu…”[3]. Công tác xây dựng Đảng được quan tâm chú trọng, phát triển mạnh mẽ dẫn đến sự ra ra đời của Ban cán sự châu ủy Bắc Sơn (tháng 5/1938) và hàng loạt chi bộ ở Bắc Sơn vào cuối năm 1938 như: chi bộ xã Vũ Lăng, Hữu Vĩnh, Hưng Vũ, Vĩnh Yên, Vũ Địch, Bắc Sơn, Chiêu Vũ, Ngư Viễn, Vũ Lễ… Ban cán sự châu ủy Bắc Sơn và các chi bộ Đảng ở đây là tổ chức trực tiếp lãnh đạo, chỉ phong trào Cách mạng Bắc Sơn. Vai trò của tổ chức đảng và các đảng viên ở Bắc Sơn trong khởi nghĩa được thể hiện rất rõ nét:

- Ngày 26/9/1940, cuộc họp ở đình Nông Lục (xã Hưng Vũ) giữa các đồng chí đảng viên mới thoát khỏi nhà tù trở về (Hoàng Đình Ruệ, Nông Văn Cún) với chi bộ Hưng Vũ đã đưa ra quyết định chủ trương, kế hoạch khởi nghĩa.

- Hội nghị giữa các tổ đảng và các chiến sĩ cộng sản từ Lạng Sơn trở về tổ chức sáng ngày 27/9/1940 đã thông qua chủ trương khởi nghĩa và và quyết định phát động đấu tranh vũ trang ngay ngày hôm đó.

- Ban chỉ huy khởi nghĩa, Ban phụ trách trận đánh đồn Mỏ Nhài (mở đầu cho khởi nghĩa) là những đảng viên cốt cán của các chi bộ ở Bắc Sơn: Hoàng ăn Hán, Dương Công Bình, Hoàng Đình Ruệ, Đường Văn Thức, Thái Long…

Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và phong trào cách mạng Bắc Sơn trước và sau đó luôn đặt dưới sự chỉ đạo của tổ chức đảng, gắn liền với các đảng viên. Họ luôn là lực lượng nòng cốt, tiên phong của phong trào. Đồng chí Lương Văn Tri là người đã cùng đồng chí Hoàng Văn Thụ gieo những “hạt giống đỏ” đầu tiên trên mảnh đất Bắc Sơn giàu truyền thống; xây dựng, phát triển tổ chức đảng ở Bắc Sơn đủ mạnh mẽ, vững vàng để lĩnh hội, gánh vác vai trò, sứ mệnh lớn lao của lịch sử.

          3. Tổ chức, chỉ đạo phong trào Cách mạng phát triển ngày càng mạnh mẽ, tạo lực lượng Cách mạng cho khởi nghĩa Bắc Sơn:

          Thời kỳ hoạt động ở Bắc Sơn, bên cạnh việc xây dựng tổ chức đảng, phong trào quần chúng, đồng chí Lương Văn Tri đã nỗ lực tham gia chỉ đạo phong trào cách mạng ở đây. Đặc biệt là từ khi Bắc Sơn có chi bộ Đảng. Thông qua chi bộ đảng, đồng chí Lương Văn Tri và Hoàng Văn Thụ đã tích cực lãnh đạo phong trào quần chúng của Bắc Sơn chống lại áp bức bóc lột, đòi các quyền tự do dân chủ. Cụ thể là kiện một số lý trưởng tự tiện tăng thuế thu chi hàng xã, thuế ngoại phụ, thuế điền; kiện bọn tổng, lý hà hiếp nhân dân trong việc bắt phu, bắt lính, thu thuế. Bên cạnh đó còn vận động nhân dân chống đi phu, đánh đập phu phen, tạp dịch… Lãnh đạo quần chúng đấu tranh công khai dưới các khẩu hiệu như “chống phát xít”, chống phản động”, đòi quyền tự do đi lại giữa các vùng… Dưới sự đấu tranh quyết liệt của quần chúng, nhiều tên chức sắc tay sai khét tiếng ở các xã như Chánh Hương (xã Vũ Lăng), Lý Cơ (xã Hữu Vĩnh)… đã phải nương tay, chùn bước; một số tên đã phải chấp nhận các yêu sách chính đáng của nhân dân. Có thể thấy, phong trào quần chúng của Bắc Sơn đã diễn ra dưới nhiều hình thức ngày càng phong phú, thiết thực và hiệu quả hơn. Qua đó có tác dụng thức tỉnh tinh thần đấu tranh của quần chúng nhân dân; từng bước tôi luyện bản lĩnh, phương pháp đấu tranh cách mạng của họ - những yếu tố quan trọng dẫn đến cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn sau này. Khi quần chúng đã được giác ngộ cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phương pháp đấu tranh hiệu quả thì việc vùng lên khởi nghĩa, lật đổ chính quyền tay sai phong kiến là một hệ quả tất yếu của phong trào Cách mạng Bắc Sơn. Từ cuối tháng 11/1939, đồng chí Lương Văn Tri được tín nhiệm bầu vào Ban Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, trở về TW chỉ đạo phong trào Cách mạng của Bắc Kỳ. Theo các tư liệu lịch sử, phong trào cách mạng ở Bắc Sơn luôn nhận được sự quan tâm của, chỉ đạo sát sao của Xứ ủy về phương hướng hoạt động, biện pháp vận động quần chúng đấu tranh... Trong thời gian này, phong trào đấu tranh của nhân dân Bắc Sơn tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Nhiệm vụ trung tâm của phong trào lúc này là vận động, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân thành một lực lượng cách mạng rộng lớn, sẵn sàng đón lấy thời cơ mới. Lúc này, “Chi bộ các xã đã đã nhanh chóng tổ chức các đội tự vệ. Nhiều thanh niên, phụ nữ các dân tộc trong huyện đã hăng hái tham gia tự vệ. Họ bỏ tiền ra mua sắm súng kíp, kiếm, mã tấu, gậy gộc… để trang bị cho mình[4]. Khi khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra ngày 27/9/1940, các đội tự vệ có trang bị vũ khí này chính là thành phần, lực lượng quan trọng tham gia đánh đồn Mỏ Nhài, cướp chính quyền về tay nhân dân. Sự chỉ đạo cách mạng Bắc Sơn của Xứ ủy Bắc Kỳ khi đó luôn có sự tham gia của đồng chí Lương Văn Tri với vai trò là Ủy viên Ban Thường vụ xứ ủy. Đóng góp của đồng chí Lương Văn Tri trong việc tổ chức, xây dựng lực lượng cách mạng cho cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn là vấn đề hết sức quan trọng, góp phần quyết định thành công của cuộc khởi nghĩa.    

4. Trực tiếp tham gia củng cố, duy trì phong trào sau khởi nghĩa Bắc Sơn:

Ngày27/9/1940, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (Lạng Sơn) bùng nổ vàgiành thắng lợi. Ít lâu sau, thực dân Pháp đã thỏa hiệp, câu kết với Phát xít Nhật quay trở lại đàn áp lực lượng khởi nghĩa. Trước tình hình đó, Trung Ương Đảng đã cử đồng chí Trần Đăng Ninh, Uỷ viên Ban Thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ về Bắc Sơn trực tiếp lãnh đạo phong trào và  hướng cuộc khởi nghĩa vào mục tiêu xây dựng lực lượng để chiến đấu lâu dài. Ngày 14/10/1940, cuộc họp tại Sa Khao (xã Tân Hương) đã quyết định thành lập đội du kích Bắc Sơn trên cơ sở tập hợp đảng viên và một số quần chúng tích cực. Ngày 16/10/1940, tại làng Đon Úy, xã Vũ Lăng, đồng chí Trần Đăng Ninh đã tuyên bố thành lập đội du kích Bắc Sơn. Hội nghị Trung ương Đảng họp ngày 06 đến ngày 09/11/1940 tại Đình Bảng, Bắc Ninh đã quyết định duy trì đội du kích Bắc Sơn, phát triển lực lượng, tiến tới thành lập căn cứ địa Bắc Sơn – Võ Nhai. Đồng chí Hoàng Văn Thụ - Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng được giao nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện Nghị quyết này.

Tháng Giêng năm 1941, đồng chí Lương Văn Tri được Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ phân công làm Chỉ huy trưởng đội Du kích Bắc Sơn, triển khai kế hoạch của Trung ương xây dựng căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai. Trung tâm căn cứ du kích đặt tại rừng Khuổi Nọi (xã Vũ Lễ, huyện Bắc Sơn). Đồng chí đã trở thành cán bộ cốt cán duy trì, củng cố phong trào thời gian sau khởi nghĩa Bắc Sơn.

Với chức trách được giao, đồng chí đã chủ động nắm bắt tình hình hoạt động, những khó khăn của các cơ sở quần chúng cách mạng ở Bắc Sơn để chỉ đạo hoạt động. Đồng thời nhanh chóng bắt tay vào tập hợp, củng cố đội du kích Bắc Sơn, thành lập các đội tự vệ, sắm thêm vũ khí, tổ chức luyện tập theo kỹ chiến thuật đánh du kích cho các đội viên. Tại căn cứ du kích, đồng chí đã chỉ đạo mở một số lớp huấn luyện quân sự, chính trị cho Đội du kích Bắc Sơn, các học viên được tuyển chọn từ các xã của châu Bắc Sơn và cán bộ các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh. Nội dung huấn luyện gồm những kiến thức cơ bản về chiến thuật quân sự, công tác vận động quần chúng; tuyên truyền, tổ chức quần chúng đấu tranh từ hình thức thấp đến cao, từ đấu tranh chính trị tiến lên đấu tranh vũ trang. Thực hiện nhiệm vụ xây dựng, củng cố căn cứ địa Bắc Sơn – Võ Nhai, đội du kích Bắc Sơn do đồng chí chỉ huy còn tích cực tiến hành tuyên truyền trên địa bàn, cùng với nhân dân tăng gia sản xuất, đảm bảo lương thực, thực phẩm, mở rộng phạm vi hoạt động sang các huyện lân cận, bí mật gây dựng lại các cơ sở Đảng và quần chúng…

Với sự nỗ lực của đồng chí Lương Văn Tri và các đồng chí cán bộ Xứ ủy Bắc Kỳ về tăng cường, chỉ trong một thời gian ngắn, cơ sở cách mạng ở Bắc Sơn (Lạng Sơn), Võ Nhai (Thái Nguyên) đã có bước phát triển mới. Vùng rừng núi hiểm trở có địa thế nối liền nhau thuộc các xã Vũ Lăng, Vũ Lễ, Hữu Vĩnh, Ngư Viễn (Bắc Sơn) và Lâu Thượng, Phú Thượng, Tràng Xá (Võ Nhai) đã trở thành khu căn cứ địa vững mạnh của Đội du kích, trong đó căn cứ Khuổi Nọi là trung tâm. Từ đây có thể triển khai nhanh chóng lực lượng đến Võ Nhai sang Đồng Hỷ, Đại Từ, Phú Lương (Thái Nguyên), xuống Yên Thế (Bắc Giang), lên Na Rì (Bắc Cạn), qua Hữu Lũng, Bằng Mạc (Lạng Sơn). Các lớp huấn luyện quân sự, huấn luyện chính trị của Xứ uỷ Bắc Kỳ do đồng chí Lương Văn Tri phụ trách được mở tại căn cứ Khuổi Nọi đã đào tạo được nhiều cán bộ cho phong trào cách mạng các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang... Từ đội du kích đầu tiên được đồng chí Trần Đăng Ninh thành lập đã hình thành trung đội du kích Bắc Sơn. Phong trào cách mạng ở Bắc Sơn sau thời gian bị thực dân Pháp khủng bộ đã được khôi phục và phát triển, tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự hình thành và phát triển phong trào cách mạng ở các châu lân cận như Bình Gia, Bằng Mạc và Hữu Lũng.

Tháng 2 năm 1941, đoàn đại biểu Trung ương Đảng gồm các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh… trên đường đi dự Hội nghị Trung ương lần thứ 8 do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập ở Pác Bó (Cao Bằng) đã dừng chân ở Khuổi Nọi, Vũ Lễ (Bắc Sơn). Tại đây, các đồng chí Trung ương đã họp với Đảng bộ Bắc Sơn và Ban chỉ huy Đội du kích Bắc Sơn để nắm tình hình, phổ biến chủ trương của Đảng và các biện pháp công tác cần kíp. Đồng chí Hoàng Văn Thụ, Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ đã thông báo, phổ biến quyết định của Trung ương, đổi tên Đội du kích Bắc Sơn thành Cứu quốc quân.

Ngày 23 tháng 02 năm 1941, Đội cứu quốc quân I làm lễ chính thức thành lập tại căn cứ Khuổi Nọi, xã Vũ Lễ, huyện Bắc Sơn, gồm 32 cán bộ, chiến sĩ. Đây là đơn vị vũ trang đầu tiên của Đảng và dân tộc, tiền thân của quân đội nhân dân Việt Nam. Đồng chí Lương Văn Tri được Trung ương chỉ định làm Chỉ huy trưởng Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn. Ngay sau khi thành lập, đội Cứu quốc quân đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đưa đường, bảo vệ an toàn cho đoàn cán bộ cao cấp của đảng đi dự Hội Nghị TW 8 ở Cao Bằng. .

Với vai trò người Chỉ huy trưởng, đồng chí Lương Văn Tri đã tích cực quán xuyến, triển khai việc biên chế lại các tiểu đội của Cứu quốc quân Bắc Sơn; phân công cán bộ, chiến sĩ phụ trách các địa bàn, tăng cường hoạt động tuyên truyền, vận động, phát triển cơ sở quần chúng cách mạng, từng bước mở rộng khu căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai. Trung tâm căn cứ Khuổi Nọi được tăng cường bố trí lán trại, chuẩn bị thêm bãi tập để tiếp tục tổ chức các lớp huấn luyện quân sự, trang bị kiến thức cơ sở về quân sự cho lớp cán bộ quân sự đầu tiên của nhiều tỉnh, thành; phát hành bản tin “Du kích” do đồng chí là chủ bút để làm tài liệu tuyên truyền trong quá trình vận động, phát triển phong trào cách mạng, xây dựng căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai. Với những việc làm tích cực đó, đội vũ trang đầu tiên của Đảng ngày càng trở nên chính quy hơn, căn cứ địa Bắc Sơn – Võ Nhai được xây dựng, củng cố vững chắc, trở thành chiến khu Cách mạng của cả nước. Tháng 6/1941, đội Cứu quốc quân do đồng chí Lương Văn Tri phụ trách tiếp tục làm nhiệm vụ đón tiếp và bảo vệ an toàn cho đoàn cán bộ TW Đảng đi họp Hội nghị TW 8 trở về, vượt qua sự lùng sục, khủng bố gắt gao của địch.

Tháng 7 năm 1941, trước yêu cầu hoạt động của Đội Cứu quốc quân và việc xây dựng củng cố căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã chỉ định Ban lãnh đạo mới của căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai. Đồng chí Phùng Chí Kiên, Uỷ viên Trung ương Đảng được Trung ương giao nhiệm vụ Chỉ huy trưởng căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, kiêm Chỉ huy trưởng Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn. Đồng chí Lương Văn Tri, Uỷ viên Ban Thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ được Trung ương chỉ định làm Chính trị viên Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn.

Lo sợ trước hoạt động mạnh mẽ của Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn, ngày 25/7/1941, thực dân Pháp huy động lực lượng lớn tiến hành một cuộc đàn áp, khủng bố khốc liệt quy mô lớn đối với căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai. Nhiều làng bản bị đốt phá, triệt hạ; quần chúng cách mạng bị bắt bớ tù đày, tra tấn dã man hoặc giết hại; dân làng bị dồn vào khu tập trung tại Đàng Lang, xã Quỳnh Sơn (nay là xã Bắc Quỳnh) để hòng “tát nước bắt cá”, tiêu diệt Đội cứu quốc quân Bắc Sơn. Tình hình trở nên nguy cấp do sự vây ráp, chênh lệch lực lượng giữa ta và địch. Trước tình thế đó, đồng chí Chỉ huy trưởng Phùng Chí Kiên, Chính trị viên Lương Văn Tri đã họp bàn với Đảng bộ Bắc Sơn quyết định rút toàn bộ Đội Cứu quốc quân ra khỏi Bắc Sơn. Trên đường rút quân, do có sự khai báo của một tên chánh tổng phản động ở châu Na Rì (Bắc Kạn), đồng chí Lương Văn Tri cùng các đồng chí của mình bị quân địch bao vây. Trong cuộc chiến không cân sức ấy, đồng chí Phùng Chí Kiên đã anh dũng hy sinh, đồng chí Lương Văn Tri trúng đạn bị thương nặng. Kẻ địch bắt giam đồng chí tại Ngân Sơn (Bắc Cạn) và đưa về giam giữ ở nhà tù của thực dân Pháp tại thị xã Cao Bằng. Do bị thương nặng, lại bị địch tra tấn dã man, ngày 29/9/1941, đồng chí đã trút hơi thở cuối cùng tại nhà tù Cao Bằng. Từ đó, phong trào Cách mạng Bắc Sơn cũng tạm lắng xuống.

Có thể thấy, sự hình thành và phát triển của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940 luôn gắn liền với tên tuổi của Lương Văn Tri và nhiều chiến sỹ Cách mạng tiền bối khác như Hoàng Văn Thụ Trần Đăng Ninh, Chu Văn Tấn.... Với lòng yêu nước, nhiệt huyết Cách mạng, bản lĩnh kiên cường, trí tuệ sắc sảo, đồng chí Lương Văn Tri đã không quản ngại khó khăn gian khổ, lăn lộn với phong trào, có những đóng góp tích cực với cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn nói riêng và phong trào Cách mạng Bắc Sơn nói chung. Những nỗ lực của đồng chí trong việc xây dựng, duy trì, củng cố cơ sở quần chúng, lực lượng cách mạng đã góp phần quan trọng ghi danh khởi nghĩa Bắc Sơn vào trang sử vàng của dân tộc, đưa Bắc Sơn trở thành một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam./.

--------------------------


 

[1] . Lịch sử đấu trnh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Bắc Sơn (1930-1954). Đảng bộ huyện Bắc Sơn. 1990:

[2] Đời hoạt động Cách mạng của chí Lương Văn Tri. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Văn Quan. Tr 36.

[3] Lịch sử đấu trnh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Bắc Sơn (1930-1954). Sđd. Tr 52

[4] Lịch sử đấu trnh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Bắc Sơn (1930-1954). Sđd. Tr 58

 

Nông Đức Kiên – Chu Quế Ngân 

Lễ hội Quỳnh Sơn được tổ chức trong hai ngày 12 và 13 tháng Giêng Âm lịch hàng năm, tại xãBắc Quỳnh (trước đây là xã Quỳnh Sơn), huyện Bắc Sơn. Nổi bật trong lễ hội là những bộ trang phục của dân tộc Tày, Nùng với những điệu hát then, hát lượn, hát ví… tô thêm nét văn hóa đặc sắc cho nơi đây.

 Lh Quỳnh Sơn BS

Lễ rước kiệu trong Lễ hội Quỳnh Sơn (Ảnh TL)

Trong lễ hội diễn ra lễ rước kiệu ông Dương Tự Minh – là thủ lĩnh của Phủ Phú Lương, đất Bắc Sơn xưa, thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Trong suốt 3 đời nhà Lý: Lý Nhân Tông (1072 – 1128), Lý Thần Tông (1128 – 1138) và Lý Anh Tông (1138 – 1175). Ông là người có công lớn trong cuộc chinh chiến chống quân xâm lược nhà Tống, giữ vững vùng biên cương rộng lớn phía Bắc của nước Đại Việt hồi đầu thế kỷ thứ XII. Đồng thời ông cũng có công lớn trong việc giúp đồng bào nhân dân các dân tộc miền núi trong đó có Tổng Quỳnh, truyền dạy cho dân làng khai phá đất đai, trồng ngô khoai, cấy lúa, trồng dâu nuôi tằm, quay tơ dệt vải, dạy cho con gái biết thêu thùa, may vá, dạy cho con trai biết học chữ, biết săn thú bảo vệ mùa màng.

Tin cậy và ghi nhận công lao của ông, năm 1127 vua Lý Nhân Tông đã gả cho ông công chúa Diên Bình, đến năm 1144 vua Lý Nhân Tông lại gả công chúa Thiều Dung cho ông. Như vậy ông Quý Minh được hai lần phong Phò mã. Cuối đời ông trở về Điển Sơn (nay là núi Đuổn) và mất ở đây. Ông được nhà Lý phong sắc “UY VIÊN ĐÔN TÍNH CAO SƠN QUẢNG ĐỘ CHI THẦN”, các đời sau đều ghi hiệu ông là “CAO SƠN QUÝ MINH, QUÝ MINH ĐẠI VƯƠNG”.

Để tôn vinh và tưởng nhớ công lao của ông, nhân dân các dân tộc phương Bắc gồm các tỉnh: Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc đã lập đền thờ ông tại nhiều nơi. Nhân dân thuộc Tổng Quỳnh đã lập đền thờ ông tại Đẳng Rử thôn bên sườn núi đá nước nguồn, phía sau có Giếng Tiên (sau chuyển đến một địa điểm mới cách điểm cũ 400m về phía đông, đó là khu vực đất Đàng Lang) thuộc Quỳnh Sơn xã, Quỳnh Sơn Tổng, Phú Nhai huyện, Thái Nguyên Tỉnh, Phú Lương Phủ (nay là xã Bắc Quỳnh, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn).

Để tổ chức được lễ hội thành công, ban tổ chức lên kịch bản, sắp xếp con người và phân công cụ thể cho các thành viên từ rất sớm trước đó nhiều ngày.

Ngày 12 tháng Giêng:

Sáng sớm ngày 12 tháng Giêng (Âm lịch) làng bắt đầu khai hội. Sau khi đã chuẩn bị lễ vật xong hai ông chủ tế, 8 ông quan lễ (tiến tước) và các thầy Mo, thầy Pháp Sư sẽ tiến hành các tuần tế tại đình theo thứ tự: Lễ cúng Đức Vua, Lễ cúng Thổ Công (hai bên tả hữu), Lễ khoán an và Lễ tế nghinh thần.

Mở đầu nghi lễ ông Thầy Pháp Sư làm thủ tục đuổi ma, trừ tà đồng thời tâu sớ lên trên Thiên đình (Vua Cha, Ngọc Hoàng, Phật tổ Như Lai, Quan Âm Bồ Tát, các thần linh cai quản các phương...) mời các vị thánh thần trên thiên đình xuống với dân làng mở hội cầu mùa.

Sau đó hai ông chủ hội và 8 ông quan lễ (tiến tước) sẽ vào vị trí để chuẩn bị thực hiện các phần nghi lễ khác nhau. Sau khi đã trải qua nghi lễ cúng Đức vua và lễ cúng thổ công sẽ chuyển sang 2 nghi lễ rất quan trọng của lễ hội Quỳnh Sơn là lễ khoán an và lễ tế nghinh thần. Nội dung 2 phần lễ này cụ thể như sau:

* Lễ kin mang khoán an (gọi tắt là Lễ khoán an):

Mở đầu hai ông chủ hội sẽ vào Đình cúng và xin âm dương, sau khi xin được âm dương một người có chức quyền cao trong xã hoặc một người cao tuổi có uy tín trong làng, xã lên đứng trước bàn ăn thề đọc những lời ăn thề viết trên giấy đỏ (có nội dung kèm theo). Sau khi đọc xong dâng tờ giấy lên Đức Vua. Sau đó 1 người cắt tiết con gà giỏ vài giọt vào bát rượu. Tiếp đó lần lượt mọi người có mặt trong buổi lễ lên uống máu ăn thề và thắp một nén hương. Sau khi mọi người ăn thề xong người đọc lời ăn thề vào trong Đình lấy tờ giấy đỏ ra đốt (hóa) cùng với mâm vàng để sẵn. Đốt (hóa) xong tuyên bố kết thúc lễ kin mang khoán an.

* Lễ nghinh thần:

Nôi dung quy trình của phần tế này được thực hiện theo khẩu hiệu hô của hai thông xướng (tả - hữu, hoặc đông xướng – tây xướng). Hai ông thông xướng được lựa chọn trong 8 ông quan lễ. Bên tả hô, bên hữu đáp lại, hai ông chủ tế và 6 quan văn là người thực hiện.

* Lễ rước kiệu (quy trình đám rước):

Sau khi thực hiện xong lễ nghinh thần mọi người tất cả mọi người chuẩn bị lễ vật (đặt cỗ thủ lợn lên kiệu thay cho cỗ xôi gà lúc đầu và buộc chằng lại) để rước ra xứ đồng Nà Tấn làm lễ cúng Thần Nông). Thứ tự đám rước được quy định cụ thể

Đoàn rước kiệu đi với tốc độ bình thường không quá nhanh cũng không quá chậm. Rước từ đền làng đến cánh đồng bên kia đường. Tại cánh đồng, dừng kiệu ở vị trí đã lựa chọn và chuẩn bị sẵn lán đặt kiệu.

Khi đoàn rước kiệu đến nơi có khẩu hiệu dừng kiệu, các cháu học sinh đoàn cờ tướng sẽ theo sự chỉ đạo của bà tướng cờ tản ra thành hình vuông tạo thành hàng rào rộng bảo vệ xung quanh khu vực dừng kiệu. Lúc này kiệu được khênh vào rạp dựng sẵn, hai ông Hội lên trước kiệu thực hiện bài tế Yên vị.

Sau phần tế yên vị là phần cúng thần nông và làm lễ hạ điền. Sau khi đọc xong bài cúng ông hội cầm thẻ âm dương sẽ thực hiện nhiệm vụ xin âm dương, được sự đồng ý của thần linh sẽ tiến hành đốt (hóa) hương vàng và hô khẩu hiệu cho 6 thôn bắt đầu cày. Việc cày sẽ được thực hiện tại một đám ruộng đã được bố trí trước với 6 chiếc máy cày tượng trưng cho 6 thôn.

Ngày 13 tháng Giêng:

Đến ngày 13 tháng giêng, khoảng 4h chiều tiến hành rước kiệu về Đình. Trước tiên hai ông Chủ hội cúng với bài cúng Hồi cung xin rước thần về đền (có bài cúng riêng) sau đó thay mâm cỗ xôi thủ lợn bằng mâm cỗ xôi gà đặt lên kiệu. Thực hiện xin quẻ âm dương, được sự đồng ý của thần linh sẽ rước kiệu về đền. Nghi lễ rước về được tiến hành theo các quy trình thứ tự như khi rước đi.

Khi đến Đền đội hình rước kiệu vẫn giữ nguyên, kiệu được đưa cất trong Đình, lễ vật đặt lên ban thờ tiếp theo ông chủ tế sẽ thực hiện màn tế Hồi cung (giống với nghi lễ khi chuẩn bị rước đi, có nội dung thông xướng và chúc văn kèm theo). Bài tế thực hiện xong sẽ đốt (hóa) hương vàng và chủ tế đốt (hóa) bài văn tế báo hiệu kết thúc màn tế. Lúc này các nghi lễ trong đám rước đã hoàn thành đội hình rước kiệu tự giải tán.

          Bên cạnh phần lễ, phần hội với nhiều trò chơi dân gian, theo tín ngưỡng dân gian, những trò chơi, trò diễn trong lễ hội cầu mùa cũng là biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực - cầu mong cho vạn vật sinh sôi, nảy nở; thể hiện sự giao hòa của âm - dương, trời - đất; mối quan hệ hữu cơ của các yếu tố "Thiên thời - Địa lợi - Nhân hòa"… 

Trước khi trò chơi đánh cờ tiên diễn ra, đội cờ sẽ làm lễ kéo quân diễn hành, 2 bên quân cờ đều có 02 ông đạp đất đi đầu, tiếp theo là 02 tướng cờ, trống, chiêng và 32 quân cờ. Sau khi kéo quân xong thì tướng cờ và quân cờ vào vị trí ổn định.

Tiếp đó giám khảo công bố những quy định cùng các điều cấm theo tục lệ đánh cờ hội.

Số lượng cờ, quân cờ chia đều cho hai bên, mỗi bên 16 quân. Trong mỗi bên có một tướng (trong trang phục áo dài đỏ). Luật chơi cờ người cũng giống như cờ tướng nhưng quân cờ là người thật và bàn cờ là sân rộng, đủ đường đi nước bước cho 32 quân cờ, mỗi người đóng vai một quân cờ (tướng, sỹ, tượng, xe, pháo, mã, tốt). Khi bước vào cuộc đấu, khi muốn đi quân nào thì gõ một tiếng trống hoặc ra ký hiệu báo cho người phục vụ, người phục vụ đến bên quân cờ truyền đạt để quân cờ đứng lên đi tới vị trí được lựa chọn và xác định. Trong ngày hội, cuộc đấu cờ thường có sức hấp dẫn với các du khách, đặc biệt là các du khách lớn tuổi. Quá trình chơi có những ván rất căng thẳng kéo dài hàng tiếng đồng hồ mới kết thúc.

Đây là một môn thể thao trí tuệ thể hiện tích cách, khả năng tư duy, tầm nhìn và trình độ của mỗi người, nó rèn luyện cho con người khả năng nhìn xa, trông rộng tính cẩn thận và kiên trì, nhẫn nại…qua đó góp phần đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí, hưởng thụ văn hóa của du khách đến tham dự hội.

Múa Tán đàn là điệu múa thể hiện tính chất phác, cần cù của người lao động trong cuộc chiến đấu chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên, trời đất và ác quỷ để tạo ra sự trường tồn của cuộc sống con người và cầu mong sự linh thiêng, ứng nghiệm của trời đất giúp cho con người lấy cái thiện để thắng cái ác, lấy cần cù để thắng thiên nhiên nhằm tạo lập một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, thái bình, thịnh trị.

Trò chơi múa rối được thực hiện dưới sự chỉ huy của ông trùm rối dẫn lời và sự điều khiển của 03 người. Khi ông trùm rối dẫn lời xong thì 3 người phụ trách điều khiển rối sẽ vừa đọc hoặc hát các lời ca ngợi cung kính Đức Vua, thể hiện các lời ca chúc mừng, trước là mừng Vua, sau là mừng làng, mừng xóm, mừng nông, mừng công, mừng thương…mừng cho dân làng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, thái bình, thịnh trị vừa điều khiển con rối có những cử chỉ, hành động phù hợp với nội dung lời dẫn.

Sau khi trò múa rối kết thúc 02 người lên sân khấu vừa múa, vừa hát các bài ca ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi sự vui tươi náo nhiệt của ngày hội…Đây là hoạt động văn hóa hết sức độc đáo trong lễ hội Quỳnh Sơn, những ngày hội làng, làng vẫn tổ chức múa rối để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và cảm nhận văn hóa của nhân dân địa phương. Những lời ca, lời dẫn được vang lên từ không gian hội vừa du dương, vừa sâu lắng, đi vào lòng người như mời gọi mọi người đến chung vui. Trong không khí vui tươi náo nhiệt của ngày hội làng, lời ca, lời chúc lan tỏa trong không gian làng xóm như lan truyền không gian văn hóa hội đến mọi nơi.

Những lời ca, tiếng hát mang tính tự biên, tự diễn với nội dung ca ngợi quê hương, đất nước, ca ngợi con người, ca ngợi công lao của Thành Hoàng làng – vị thần bảo hộ của cộng đồng…qua đó tỏ lòng thành kính, tin tưởng tuyệt đối vào vị Thành Hoàng, cùng một ước vọng về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, mưa thuận, gió hòa.

Ngoài các trò chơi, trò diễn trên tại lễ hội Quỳnh Sơn còn diễn ra nhiều hoạt động phong phú và đa dạng với nhiều loại hình như: Kéo co; Đánh đu; Tung còn; Bóng chuyền (Mới được tổ chức thêm từ năm 2005); Hát ví – Hát lượn; Hát then; Múa chầu; Hát nhà tơ; Hội vật…

          Lễ hội không chỉ là điểm đến của du khách trong tỉnh mà ngày càng thu hút khách thập phương, thật sự trở thành một điểm đến trong hành trình du lịch tâm linh nơi cửa ngõ phía Bắc nước ta mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Lạng Sơn./.


                                                 Nguyễn Thu Huyền 

          Lễ hội Lồng Thồng Chu Túc, xã An Sơn (trước đây thuộc xã Chu Túc), huyện Văn Quan đã có từ lâu đời, được tổ chức vào ngày 10 tháng Giêng Âm lịch hàng năm. Đây là lễ hội truyền thống với quy mô, phạm vi các gia đình và dòng họ Hà tại địa phương đứng ra tổ chức, nội dung lễ hội là dâng lễ vật lên các vị thần để cầu mùa màng bội thu, quốc thái dân an, vạn vật sinh sôi phát triển và tổ chức các hoạt động trò chơi dân gian truyền thống.

Không gian tổ chức lễ hội diễn ra tại hai địa điểm chính là đình làng và sân thể thao, thuộc thôn Nà Tèn, xã An Sơn

Lh Chu Túc VQ 1

Nhân dân đến tham gia lễ hội Chu Túc

 

Phần lễ: Diễn ra tại đình làng, là nơi thờ Cao Sơn, Quý Minh Đại Vương và Thành hoàng làng họ Hà (Theo truyền thuyết, ông thủy tổ gia tộc họ Hà đã có công khai phá vùng đất này vào khoảng những năm 1428-1430, sau khi ông mất, nhân dân địa phương đã lập đình để thờ ông và tôn ông làm Thành Hoàng làng).

Để tổ chức được lễ hội đảm bảo trang trọng, tôn nghiêm, nhân dân địa phương đã họp bàn thống nhất trước ngày chính hội khoảng một tháng. Qua đó các hộ gia đình trong làng sẽ cùng đóng góp để chuẩn bị một mâm lễ chung (mâm lễ chính), Lễ vật gồm các thứ: 01 con gà thiến to béo, 1 mâm xôi 3 màu (trắng, đỏ, tím), 02 cặp bánh chưng vuông, 01 đĩa bánh dày, 2 bát khẩu sli, bánh khảo, chè lam... Ngoài mâm lễ chính của làng, các hộ gia đình còn chuẩn bị cho gia đình mình một mâm cỗ riêng để cúng Thành Hoàng làng.

Đến giờ khai hội, đại diện ban tổ chức đánh 3 hồi trống báo hiệu giờ tốt đã đến, các mâm cỗ được nhân dân mang ra cúng tại đình, mâm lễ chung của làng được đặt ở ban thờ thần Thành Hoàng làng, bên dưới là các mâm cỗ của các gia đình sẽ được xếp thành 2 hàng, bày đối diện nhau. Tiếp đến là màn múa lễ bái của đoàn sư tử quanh các mâm lễ cúng. Cùng lúc này, Pú Mo trong trang phục áo màu xanh, đầu đội khăn xếp bắt đầu thắp hương và làm lễ, sau khi Pú Mo thắp hương mâm lễ chính, lần lượt các trưởng họ thắp hương lên mâm cỗ của gia đình mình.

 

 Lh Chu Túc VQ 2

               Đại diện Ban tổ chức đánh trống khai hội

Sau lời khấn, Pú Mo rót rượu mời các thần: Cao Sơn, Quý Minh Đại Vương, vị Thành Hoàng họ Hà, thần Nông và thần Thổ Địa... cầu cho nhân dân luôn mạnh khỏa khỏe, nhân khang, vật thịnh, mùa màng bội thu,...

 

 Lh Chu Túc VQ 3

Sư tử múa chào mừng lễ hội

          Phần hội: Được tổ chức ngay sau phần lễ, bao gồm những trò chơi dân gian như: Kéo co, đẩy gậy, đấu vật, múa sư tử, hát sli, lượn... thu hút đông đảo nhân dân cùng tham gia.

.

Múa sư tử: nhân lực trong đội múa sư tử thông thường là 7 -12 người độ tuổi từ 18 đến 25 (Trong mỗi đội có một người trung niên từ 35 đến 40 tuổi). Đội phân công múa sư tử chịu trách nhiệm chuẩn bị đầu sư tử, chiêng, trống, thanh la, chũm chọe, mặt nạ ông địa, các vũ khí và trang phục, đạo cụ kèm theo của trò diễn.

Đẩy gậy: Sân thi đấu môn đẩy gậy không có gì phức tạp, chỉ cần vẽ một vòng tròn đồng tâm khoảng 5 mét, với một chiếc gậy có chiều dài 2 mét được sơn màu trắng, đỏ hai đầu để phân biệt; đầu và thân gậy phải được bào nhẵn và có đường kính bằng nhau. Sau khi các vận động viên đã hoàn tất thủ tục chuẩn bị thi đấu, trọng tài chính dùng khẩu lệnh “cầm gậy”, các vận động viên mới được phép cầm gậy theo quy định của luật. Khi các vận động viên đã ở tư thế sẵn sàng, đúng luật, hô dự lệnh “chuẩn bị”, sau đó thổi một hồi còi phát lệnh cho hiệp đấu bắt đầu, đồng thời buông tay cầm gậy ra. Theo quy định luật chơi, bên nào chân chạm vào vạch hoặc bị đẩy ra khỏi vòng tròn trước là thua cuộc. Mỗi cuộc thi đẩy gậy thường diễn ra trong 2 - 3 hiệp, nếu thắng 2 hiệp liên tiếp thì vận động viên đó là người giành chiến thắng. Khi kết thúc trận đấu, trọng tài chính và 2 vận động viên mặt hướng về Ban Tổ chức trọng tài chính hai tay cầm tay 2 vận động viên, giơ tay vận động viên thắng cuộc lên cao, sau đó các vận động viên rời sân.

 Lh Chu Túc VQ 4

                             Trò chơi đẩy gậy diễn ra trong lễ hội.

Kéo co: khoảng 8-10 người 1 đội chơi; đây kéo co được chia đôi đánh dấu bằng 1 dây lụa đỏ ở giữa; kẻ 3 vạch, buộc 3 dây đỏ để bắt đầu chơi dây sẽ ko lệch về bên nào.

Ném còn: Quả "còn" hình cầu to bằng nắm tay trẻ nhỏ, được khâu bằng nhiều múi vải màu, bên trong nhồi thóc và hạt bông (thóc nuôi sống con người, bông cho sợi dệt vải). Quả còn có các tua vải nhiều màu trang trí và có tác dụng định hướng trong khi bay. Sân ném còn là bãi đất rộng, ở giữa chôn một cây tre (hoặc vầu) cao, trên đỉnh có “vòng còn” hình tròn (khung còn), khung còn một mặt dán giấy đỏ (biểu tượng cho mặt trời), mặt kia dán giấy vàng (biểu tượng cho mặt trăng). Cả mặt giấy là biểu tượng cho sự trinh trắng của người con gái. Người chơi đứng đối mặt với nhau qua cây còn, ném quả còn lọt qua vòng còn trên đỉnh cột là thắng cuộc.

          Tuy mới được phục dựng những năm gần đây nhưng lễ hội Lồng thồng Chu Túc đã thu hút sự quan tâm, tham gia, ủng hộ của đông đảo nhân dân địa phương và nhân dân các vùng lân cận. Lễ hội chính là nơi người dân nơi đây gửi gắm tâm tư, nguyện vọng, cầu cho đời sống gia đình mình có một năm mạnh khỏe, gặp nhiều may mắn, mọi việc hanh thông. Đồng thời, lễ hội cũng chính là dịp để người dân tụ họp, giao lưu văn hóa tinh thần.

 

                                           Nguyễn Thu Huyền

 

 

 

Chùa Tà Lài (còn có nhiều tên gọi khác là chùa Bụt Bay hay chùa Thanh Hương) được người dân xứ Lạng và du khách thập phương ví như chùa Hương thu nhỏ thứ 2; bởi đây là ngôi chùa rất linh thiêng, cầu được ước thấy, xin sao được vậy.

Lh Tà lài1w

Du khách và nhân dân lễ chùa Tà Lài trong ngày Lễ hội (Ảnh TL)

Chùa Tà Lài được dòng họ Nguyễn Đình dựng lên từ thế kỷ XVIII, ghi danh tích Đô tổng binh sứ ty, Bắc quân Đô Đốc phủ Hữu đô đốc Nguyễn Đình Lộc. Chùa Tà Lài nằm ở lưng chừng núi Phia Chàu thuộc thôn Tà Lài, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng, cách thành phố Lạng Sơn 20km.

Theo truyền thuyêt, sau một đêm mưa to gió lớn, gió giật, sấm chớp đùng đùng; sáng hôm sau trời quang mây tạnh người dân nghe tiếng chuông lạ vọng ra từ núi Phia Chàu. Các cao niên trong làng cử người đi kiểm tra thì phát hiện một quả chuông và một gắp gianh ở trong hang. Tiếp đó cử người sang hang Bó Chi thì thấy mất chuông, tranh tre đổ ngổn ngang. Do vậy, các cao niên cùng thống nhất cho lập chùa tại đây, vì thế chùa còn có tên là chùa Bụt Bay. Từ đó đến nay, chùa trải qua nhiều đợt tu bổ, tôn tạo để có được cảnh quan như hiện tại. Đặc biệt, năm 2006 chùa được tu bổ, tôn tạo với quy mô lớn, hệ thống cung thờ và tượng thờ được bổ sung phong phú hơn (cung Mẫu, cung Sơn Trang, các tượng mẫu...) thể hiện sự phối thờ "Tiền Thánh - Hậu Phật"

Lễ hội chùa Tà Lài được tổ chức vào ngày mùng 8 tháng Giêng hàng năm tại đám ruộng trước Chùa Tà Lài, cũng là ven đường quốc lộ 4A. Nhưng từ năm 1979 trở lại đây thì Lễ hội đã diễn ra không còn được nguyên vẹn như trước mà có phần biến đổi. Phần lễ và phần hội cũng đã được rút gọn đi khá nhiều. Trong những năm gần đây, Ủy ban nhân dân xã Tân Mỹ đứng ra thực hiện tổ chức lễ hội.

Lh Tà lài2w

Nhân dân và du khách tham dự Lễ hội Tà Lài

* Phần lễ: Khi đến ngày Lễ hội thì các gia đình thuộc 3 chi của dòng họ Nguyễn Đình trong thôn chuẩn bị mâm lễ của riêng mình từ ngày mùng 7 tháng Giêng để sáng sớm ngày mùng 8 tháng Giêng mang ra đám ruộng chuẩn bị làm lễ. Các gia đình thuộc các họ khác của làng cũng chuẩn bị lễ của riêng mình như vậy.

Mâm lễ gồm: 01 con gà trống thiến to, 01 miếng thịt lợn khoảng 7 - 8 lạng, 01 cặp bánh chưng cùng với bánh khẩu sli, khúc pét, chè lam, rượu, hoa quả.

Sau khi mang lễ ra đám ruộng trước chùa sẽ có một ông Pú Mo được dân làng cử ra cúng xin lộc, cầu mong một năm mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu...

* Phần hội: Cứ đến đúng ngày mùng 8 tháng Giêng Âm lịch hàng năm người dân nô nức kéo đến đám ruộng gần chùa Tà Lài để dự hội. Không chỉ có người dân tại bản tham gia hội mà còn có một số làng, bản gần đó cũng tới chung vui cùng.

Lh Tà lài3w

Các trò chơi dân gian được tổ chức tại Lễ hội Tà Lài (ảnh TL)

Trong ngày hội Tà Lài có diễn ra một số trò chơi dân gian phục vụ nhân dân địa phương. Các trò chơi dân gian, diễn xướng dân gian diễn ra tại lễ hội gồm: Múa sư tử, đánh quay, kéo co, hát sli, lượn cả đêm hội.

- Múa sư tử: Đến đúng ngày hội sẽ có một vài đội múa sư tử từ các xã lân cận sang chung vui ngày hội như xã: Thanh Long, Tân Thanh, Thạch Đạn (Cao Lộc)... sang góp vui cho hội, đội múa sư tử này gồm khoảng 9 đến 13 người. Để phục vụ cho buổi biểu diễn thành công thì đội sư tử này cần tập hợp nhau lại và tập luyện khoảng nửa tháng, khi qua xã Tân Mỹ múa thì đội sư tử chuẩn bị đầy đủ về nhân lực cũng như các đạo cụ phục vụ cho bài múa sư tử gồm: 01 đầu sư tử, 02 mặt nạ khỉ, 01 mặt ông béo, 01 quạt, 01 gậy để múa, trang phục biểu diễn là quần áo bình thường. Khi các đội múa sư tử này đến múa góp vui cùng nhân dân ở đây thì nhân dân trong thôn sẽ phân công nhau góp thực phẩm lại để mời đội múa sư tử này hai bữa cơm trưa và chiều thịnh soạn cùng một chút tiền mặt để cảm ơn.

Đội múa sư tử đến đúng ngày hội và diễn trong một ngày, sẽ xin phép ra về và hẹn gặp lại vào mùa hội năm sau.

- Đánh quay: Mỗi người tham gia trò chơi đều cần chuẩn bị 1 con quay thật chắc cùng với dây quấn con quay để thực hiện trò chơi. Luật chơi sẽ là thi xem ai quay được con quay lâu nhất sẽ là người thắng cuộc. Những người tham gia chơi theo hiệu lệnh cùng bổ con quay xuống mặt sân chơi, âm thanh phát ra từ những con quay nghe rất vui tai. Chơi biểu diễn còn có thể vẽ một vòng tròn trên mặt đất rồi cho con quay quay trong đó.

- Hát sli, lượn: Đây là hình thức diễn xướng dân gian của hai dân tộc Nùng và Tày không thể thiếu mỗi khi mùa hội đến ở địa phương. Mỗi dịp hội đến cũng là lúc nhân dân trong các độ tuổi trung niên và thanh niên đến để hát giao duyên với nhau, hát các bài hát với nhiều nội dung phong phú như: Ca ngợi tình yêu đôi lứa, cảnh đẹp thiên nhiên của đất nước, của mùa màng tốt tươi ở địa phương, ca ngợi Đảng, nhà nước, lời hát giống như những lời tâm sự, giãi bày, động viên nhau tăng gia sản xuất, cũng là dịp để gắn kết tình cảm giữa con người với con người với nhau hơn, tăng cường đoàn kết trong nhân dân. Người dân sẽ hát ở hội trọn một ngày diễn ra hội.

Các gia đình ở khu vực có hội sẽ tổ chức ăn uống để mừng hội, đây là cơ hội để chủ nhà mời anh em họ hàng của gia đình ở xa tới chơi hội, dùng bữa cơm thân mật cùng gia đình và thăm hỏi nhau, gia đình sẽ thết đãi khách với nhiều món ăn thịnh soạn hơn những bữa ăn hàng ngày.

Lễ hội chùa Tà Lài đông nhất từ khoảng 9h sáng kéo dài đến khoảng 16h chiều. Nổi tiếng linh thiêng, chùa Tà Lài thu hút đông đảo du khách trong và ngoài tỉnh tới thăm quan, cầu tài, cầu lộc. Trong ngày diễn ra lễ hội, du khách đứng chật cứng cầu khấn tại chùa Tà Lài. 

Trải qua nhiều biến cố và thăng trầm của lịch sử, chùa Tà Lài vẫn luôn tồn tại cùng thời gian, trở thành điểm sinh hoạt văn hóa tâm linh của người dân địa phương và du khách thập phương. Lễ hội chùa Tà Lài là lễ hội hấp dẫn du khách hành hương không thể bỏ qua trong dịp lễ đầu năm tại xứ Lạng./.


                                   Vy Thị Bích Hạnh

Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn

Huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn là vùng đất chứa trong mình nhiều lớp di sản văn hóa mang đậm chứng tích của vùng biên thùy, cửa ngõ của kinh đô đất Việt trong ngàn năm qua. Xã Quang Lang xưa nay là thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn chính là tên vùng đất Quang Lang- Chi Lăng đã trường tồn ngàn năm cùng lịch sử nước nhà (trải qua các triều vua Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn…).

Ngày nay, khi đến với mảnh đất anh hùng Quang Lang- Thị trấn Đồng Mỏ- Chi Lăng lịch sử ta sẽ được thấy những nét di sản văn hóa đậm bản sắc dân tộc còn lưu lại nơi đây. Lịch sử mãi mãi khắc ghi và lưu truyền những di sản văn hóa nơi vùng đất địa đầu Tổ quốc; minh chứng là sau hàng trăm năm các di tích và lễ hội vẫn còn trường tồn với thời gian. Tìm hiểu về lễ hội đình Làng Mỏ, xã Quang Lang, huyện Chi Lăng sẽ là một lát cắt cho ta thấy được nét đẹp truyền thống văn hóa của mảnh đất Chi Lăng lịch sử.

Vào ngày 7 tháng giêng hàng năm nhân dân (xã Quang Lang xưa) thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn lại mở hội xuống đồng với nghi thức tập tục là hạ cây nêu ngày tết và cúng lễ ở đình Làng Mỏ (Khu Hữu Nghị- thị trấn Đồng Mỏ), đền Cấm (khu Hòa Bình, thị trấn Đồng Mỏ).

* Quá trình ra đời, tồn tại của lễ hội

Chuyện xưa kể rằng, ở Thôn Đông Mồ - Quang Lang có một vị quan triều đình nổi tiếng là liêm khiết, chính trực tên Lư Văn Lá; Có 1 năm ông được cử đi sứ khi trở về nghe dân làng than phiền, oán trách ông có người con trai 16 tuổi gây nên tội, cậu đi chăn trâu vì quá nghịch nên đã ném cành gai găng xuống vực lốc, nơi mà trẻ chăn trâu thường hay tắm, đến mùa hè, trẻ con trong làng nhảy xuống tắm nhưng mắc phải gai găng không bơi lên được, làm chết mất 6 trẻ nhỏ. Ông nghe xong vô cùng tức giận, nghĩ không dạy được con thì làm sao nói với dân chúng được; “Tiền trị gia, hậu trị quốc” ông phạt con trai mình phải nhảy xuống vực lốc dòng Sông Thương chết, người vợ thấy thế thương xót con quá cũng nhảy xuống đó chết theo. Ông đề nghị với dân cho cởi áo từ quan, rồi ra khu vực Đền Cấm chết ở đó, dân làng nhớ ơn công lao và phẩm chất chính trực của ông đã xây đền thờ ông tại chính nơi ông mất ( là Đền Cấm ngày nay), ngài trở thành thần đã được sắc phong Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9(1924) phong “ Sắc cho thôn Lang Mỏ xã Quang lang tổng Quang lang châu Ôn tỉnh Lạng Sơn phụng thờ Tăng sơn Chung anh Mỏ nha Hiển linh Tôn Thần. Thần đã giúp nước giúp giúp dân, tỏ rõ linh ứng, từng được ban cấp sắc phong, chuẩn cho phụng thờ. Nay đúng dịp tứ tuần đại khánh tiết của trẫm, vậy ban chiếu ân lớn, lễ có nâng bậc, nên phong Tú nghi Dực bảoTrung hưng tôn thần, chuẩn cho phụng thờ. Thần hãy giúp đỡ, bảo hộ dân ta, hãy nhận” (Theo tài liệu TT-TS FQ4018/ xxx ll,5 Viện TTKHXH TTTS: 17151) . Và đình Làng Mỏ thờ ông Đại Huề (một vị thủ lĩnh người bản địa đã tham gia chống quân Minh cùng triều Lê tại vùng đất Quang Lang- Chi Lăng -theo lời kể của cụ ông Lô Thế Minh nguyên cán bộ Ban Tuyên giáo huyện Chi Lăng - 89 tuổi tại xã Quang Lang). Ngày mùng 7 tháng Giêng hàng năm dân làng xin phép cả hai ông mở hội xuống đồng. Đây là thời gian sắp bước vào mùa vụ, dân làng tổ chức hội để cầu mùa màng trong 1 năm thuận lợi, mùa vụ bội thu.

LH Đình làng Mỏ 

Rước Ngài tại Đền Cấm- thị trấn Đồng Mỏ ( Ảnh TL)

Lễ Hội Làng Mỏ đã có từ lâu đời và được tổ chức hàng năm. Do điều kiện khách quan, chủ quan trong và sau khi đất nước ta đi qua hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ việc tổ chức lễ hội đã bị mai một và không được duy trì. Chiến tranh đã phá hoại đình Làng Mỏ vào năm 1968, sau khi đình mất, lại thêm chiến tranh loạn lạc, li tán, lễ hội thu hẹp dần mà mất hẳn. Còn tục cúng xuống đồng vào ngày 7 tháng giêng âm lịch hàng năm tại Đền Cấm được duy trì lại từ năm 2000 đến nay. Sau năm 1998 thực hiện Nghị quyết trung ương 5 khóa 8 của Đảng nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước và các cấp chính quyền di sản dần được bảo vệ. Nhân dân xã Quang Lang và thị trấn Đồng Mỏ hiện nay đã thành lập ban vận động khôi phục Đình Làng Mỏ; vận động dân làng, các tổ chức và các nhà hảo tâm đóng góp kinh phí xây lại Đình Làng Mỏ(được một gian hậu cung) và đền Cấm, các di tích đã một phần được phục dựng. Năm 2015 Lễ hội đình Làng Mỏ được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lạng Sơn phục dựng thực hiện theo chương trình mục tiêu quốc gia. Khôi phục Đình Làng Mỏ và khôi phục lễ hội xuống đồng là niềm mong mỏi của người dân quê hương Chi Lăng, đặc biệt là những người con xa quê hương.

 LH Đình làng Mỏ 1

Lễ rước thành hoàng qua thị trấn Đồng mỏ trong ngày Hội Đình Làng Mỏ (Ảnh TL) 

*Nội dung trình tự lễ hội

Chia hai phần: phần lễ phần hội.

Phần lễ: Quá trình chuẩn bị (nhân lực, cơ sở vật chất và các điều kiện khác) Chuẩn bị về nhân lực: Thành lập Ban Tổ chức lễ hội (UBND thị Trấn Đồng Mỏ (xã Quang Lang cũ) quản lý), phân công nhiệm vụ và các công việc cụ thể cho từng thành viên, lập kế hoạch và lên kịch bản lễ hội.Chọn Ban tế lễ (còn gọi là Quan viên tế lễ) bao gồm 1 ông lềnh trưởng, 4 ông phụ (gọi là góa) (5 ông này có tuổi từ 49 đến 50), 4 thanh niên chưa vợ (17 tuổi, nếu đến 18 tuổi mà không có người thay thì vẫn phải làm); đội rước cờ, rước kiệu; đội giúp việc...Chuẩn bị về vật lực: Kinh phí tổ chức lễ hội do nhân dân địa phương đóng góp; Kiệu, được lau chùi, các bộ cờ quạt được bổ sung hoặc giặt sạch, phục trang phục vụ quá trình hành lễ, rước kiệu, nhạc cụ, phục vụ tế lễ; dụng cụ phục vụ cúng tế, đạo cụ diễn văn nghệ, đạo cụ phục vụ trò chơi (Trống, Chiêng). Lễ vật cúng tế: Các gia đình thay phiên nhau đóng phần lễ chung của cả làng (cắt cay lần), và các suất đinh đóng để thịt 1 con lợn. Ngoài ra mỗi gia đình còn phải chuẩn bị 1 mâm cúng riêng, tùy theo khả năng kinh tế của mỗi người. Nội dung chính phần lễ (số lượng người tham gia tế lễ (chủ tế, hội đồng tế và các đối tượng khác), các loại lễ và các bước quy trình tế lễ, khái quát nội dung chúc văn, diễn văn liên quan đến phần tế lễ....). Sáng sớm hôm mùng 7 tháng Giêng, các đoàn đã được phân công trước sẽ tổ chức đi rước, do 1 ông lềnh chỉ huy. Dân làng sẽ chuẩn bị 2 cỗ xôi 2 con gà để cúng tại Đình Làng Mỏ và Đền Cấm (mỗi ông 1 cỗ xôi con gà) để xin phép mở hội và rước 2 ông ra vui hội cùng dân làng. Đoàn rước chính cúng ở Đình Làng Mỏ trước để rước ngai ông Đại Huề ra kiệu, rồi vòng sang rước bên Mỏ Bạo để rước Bà Nàng (2 người con gái của ông Đại Huề) và sang Đền Cấm (Khu vực đền ngày xưa yên tĩnh, mát dịu với những gốc xoài và vải rừng cổ thụ 2 người ôm, Ở khu vực đền thì chỉ 3 giờ chiều là không có ánh nắng do dãy núi đá Cai Kinh che ở phía tây. Dòng suối sau khi chảy qua bên cạnh bia "hạ mã" thì mở rộng ra cạnh sân vận động với gờ tường ngang ngực rồi lượn vòng quanh các vườn rau. Không khí luôn nhẹ nhàng, mát dịu và gió nhẹ) để rước sắc phong của ông Lư Văn Lá, đặt cả hai ông ngồi chung 1 kiệu, sắc phong và ngai để trên Kiệu sẽ được phủ vải đỏ, có lọng che. Nghè Ao Làng và Nghè Khun Phang là nhánh rước nhỏ nên được cúng riêng và rước riêng, chỉ rước bát hương chứ không có kiệu. Kiệu để rước hai ông và bàn để rước bát hương đều do con trai chưa vợ rước (mỗi nhánh 4 người), con gái khoảng 15 tuổi, chưa chồng sẽ cầm cờ, mỗi đoàn còn có 1 cái trống và thanh la vừa đi vừa đệm nhạc, tạo không khí tươi vui cho đoàn rước. Thời gian rước khoảng 1 tiếng rưỡi đến 2 tiếng, sau khi kết thúc hội thì dân làng lại rước các Ngài về các Đình, Đền, Miếu. Các đoàn rước hội tụ tại bãi trước Đền Cấm, gọi là Nà Phẹc (hay cánh đồng Nà Đon), một vài năm thì lại được tổ chức ở Ao nhà ( gần Đình làng Mỏ- Nà Coóc- khu Đông Mồ hiện nay).

LH Đình làng Mỏ 2

Đón Bát hương tại sân đình Làng Mỏ trong ngày hội ( Ảnh TL)

Ở ngoài đồng, dân làng sắp mâm tế lễ giữa trời, mâm lễ bao gồm cỗ chung và cỗ riêng, bao gồm gà, xôi rượu (các lễ này không có thịt lợn). Lễ chung gọi là “cay lần” (tiếng dân tộc Tày), được các nhà lần lượt đóng để sau khi cúng xong phân phối cho các ông phục vụ lễ hội. Lễ riêng là mỗi gia đình chuẩn bị 1 cỗ to, trang trọng, đầy đủ các món ăn với các nguyên liệu sẵn có, đặc sản của địa phương để thi cỗ, thi cỗ từ 12 đến 15 món ăn, sau khi cúng lễ và thi xong nếu có khách sẽ mời khách, không có khách thì mang cỗ về chứ không tổ chức ăn uống ngoài đồng. Ban tế lễ ở dưới đồng khoảng 4 đến 8 người gồm 1 ông lềnh, 4 ông góa và 4 thanh niên chưa vợ phụ giúp tổ chức cúng tế. Đồng thời, dân làng cũng chuẩn bị trước 1 cái bàn và có 1 ông đồng để nhập hồn, ông đồng phải là người vía nhẹ, có thể nhập hồn. Ông đồng khoác khăn đỏ trên vai và bắt đầu nhập đồng (Thánh nhập) để phán dân tình làm ăn. Tùy thuộc vào điều kiện thời tiết nhưng thường đến 4 giờ chiều thì mới hạ lễ ngoài đồng. Ở trên Đình Làng Mỏ, Ban tế lễ khoảng 12 người, đứng thành 3 hàng, đều có tuổi từ 51 trở lên (Ban tế lễ này không tế lễ ngoài cánh đồng) Lễ vật là 1 thủ lợn luộc được tế trên điện cao nhất, thân lợn để chế biến thành các cỗ, cùng với đủ các bộ phận bên trong (lòng, gan, tim...) và xôi, rượu đặt ở các ban thờ khác (khoảng 7 – 8 cỗ). Con lợn này được dân làng đóng góp, sau khi làm cỗ để đặt lễ, phần còn lại sẽ được chia đều cho các suất đinh, nhà nào không tới dự thì phải mang đến tận nhà cho họ vì họ đã góp tiền để mua con lợn đó. Ở Đền Cấm và Đền Mỏ Bạo chỉ đặt cỗ xôi con gà chứ không tổ chức tế lễ ( ngày nay quốc thái dân an, nhân dân làm làm ăn hưng vượng hơn nên lễ tế cũng nhiều hơn).

 LH Đình làng Mỏ 3

Thắp hương lễ thành hoàng trong ngày Hội Đình Làng Mỏ (Ảnh TL)

 Phần hội: Quá trình chuẩn bị (nhân lực, cơ sở vật chất, thành phần tham gia và các điều kiện khác). Nhân lực: thành lập tiểu ban tổ chức trò chơi, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên: đội chuẩn bị dụng cụ và sân bãi, đội chuẩn bị câu hỏi, đội chuẩn bị phần thưởng, chủ trò... Vật lực: Sân bãi, dụng cụ: gậy, dây thừng, phần thưởng. Phần trò chơi dân gian “Ném còn” được nhiều người tham gia chú ý. Quả "còn" hình cầu to bằng nắm tay trẻ nhỏ, được khâu bằng nhiều múi vải màu, bên trong nhồi thóc và hạt bông (thóc nuôi sống con người, bông cho sợi dệt vải). Quả còn có các tua vải nhiều màu trang trí và có tác dụng định hướng trong khi bay. Sân ném còn là bãi đất rộng, ở giữa chôn một cây tre (hoặc vầu) cao, trên đỉnh có “vòng còn” hình tròn (khung còn), khung còn một mặt dán giấy đỏ (biểu tượng cho mặt trời), mặt kia dán giấy vàng (biểu tượng cho mặt trăng). Cả mặt giấy là biểu tượng cho sự trinh trắng của người con gái. Người chơi đứng đối mặt với nhau qua cây còn, ném quả còn lọt qua vòng còn trên đỉnh cột là thắng cuộc. Ném còn làm cho người trong cuộc hào hứng, người đứng ngoài hò reo cổ vũ khiến không khí cuộc chơi rất sôi nổi, hấp dẫn. Ném còn là trò chơi không những thu hút nam nữ thanh niên mà nhiều người lớn tuổi cũng rất thích. Trò vui này mang ý nghĩa phồn thực, cầu mong giao hoà âm- dương, mùa màng tươi tốt. Ngoài ra vào một số năm, dân làng còn mời nhà tơ ( hát Chèo) về hát...

 LH Đình làng Mỏ 4

Đình Làng Mỏ trong ngày lễ hội ( Ảnh TL)

Lễ hội đươc tổ chức là bảo lưu, trao truyền giá trị văn hóa truyền thống, xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Khơi dậy, phát huy tiềm năng, giá trị di sản văn hóa hướng tới hình thành một số vùng không gian văn hóa - di sản tiêu biểu, xây dựng đời sống văn hóa, môi trường văn hóa lành mạnh; huy động các nguồn lực để đầu tư, quản lý, bảo vệ, khai thác và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, du lịch, dịch vụ, an ninh, quốc phòng, giao lưu đối ngoại theo hướng phát triển nhanh và bền vững./.

 

                                           Vi Thị Quỳnh Ngọc

Bảo Tàng tỉnh Lạng Sơn

 

 

 

Giờ tham quan

+ Sáng 7h30 – 11h30

+ Chiều 13h30 – 17h

Các ngày trong tuần
(tham quan ngày nghỉ lễ, T7, CN vui lòng liên hệ trước)

Thống kê truy cập

Hôm nay 40

Tất cả 2792099

Videos

Liên kết website