Tin tức

Tin tức (294)

Hội Thồng Báo Slao xã Quốc Khánh huyện Tràng Định còn có tên thường gọi là “Hội tình yêu” có xuất xứ từ lâu. Đến hẹn lại lên, ngày 21 tháng giêng âm lịch hàng năm, nhân dân xã Quốc Khánh và bà con trong vùng lại nô nức đi trẩy hội Thồng Báo Slao. Không gian tổ chức tại khu đồi Kéo Lếch, thôn Long Thịnh, xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định,tỉnh Lạng Sơn do UBND xã Quốc Khánh chủ trì. Do nhiều lý do khách quan, chủ quan lễ hội trước năm 2005 bị giãn đoạn chưa được tổ chức thường xuyên hàng năm; đến năm 2005, với nỗ lực bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống của quê hương các cấp, ngành liên quan trong xã, huyện đã cho khôi phục và duy trì lễ hội tổ chức hàng năm cho đến nay. Chủ thể của lễ hội là cộng đồng người Nùng, Tày xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

 Bao Slao Trang Dinh

Hội thồng Báo Slao xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định (Ảnh TL)

Nguồn gốc của lễ hội này theo người dân lưu truyền kể lại : “chuyện kể từ rất lâu có đôi trai gái người dân tộc Nùng yêu nhau nhưng do quá nghèo nên tình yêu họ gặp nhiều trắc trở. Những lần hẹn gặp nhau tại các phiên chợ, họ thường trao cho nhau những câu hát Sli, hát Lượn giao duyên ngọt ngào, để rồi từ đó họ quyết định đến với nhau. Yêu nhau đã lâu, gia đình chàng trai đến cầu hôn cô gái nhưng không được mẹ cô gái chấp nhận, phẫn uất vì hoàn cảnh gia đình mà con trai mình bị khước từ hôn ước, mẹ chàng trai đã tự vẫn. Chàng buồn rầu và cảm thấy rằng mình là nguyên nhân gây nên tất cả, không lời từ biệt chàng đã nhảy xuống vực tự vẫn. Cô gái lâu không gặp được người mình yêu nên đã quyết định đi tìm chàng đi mãi đi mãi nhưng không tìm thấy chàng trai đâu, nàng quyết định đến nơi mà họ vẫn thường gặp nhau. Khi đến, cô hay tin người mình yêu đã mất, cô cũng quyết định đi theo chàng với hi vọng sẽ tìm thấy hạnh phúc ở dưới suối vàng, và ngày đó cũng chính là ngày 21 tháng Giêng”. Câu chuyện cảm động của chàng trai cô gái người Nùng đã để lại một truyền thuyết cảm động trong lòng đồng bào dân tộc nơi đây. Chính vì vậy, cứ vào dịp 21 tháng Giêng, hội tình yêu được tổ chức để tưởng nhớ đôi trai gái chung tình và cũng là để tìm đến nhau, trao nhau tình yêu hay ôn lại chuyện tình đã qua.Các đôi trai gái tại các xã, huyện của Lạng Sơn và Cao Bằng vẫn đến đây hò hát và trao nhau những câu hát sli, hát lượn giao duyên đối đáp nhau rất tình tứ và các trò chơi dân gian như kéo co, tung còn, nhẩy bao bố… được diễn ra trong suốt cả ngày.

Mở đầu lễ hội là nghi thức cúng lễ thổ địa, sơn thần và các vị thần nông về dự lễ hội và phù trợ cho nhân dân mạnh khỏe, mùa màng bội thu.Trong nghi thức cầu mùa, các đồ thờ cúng được chuẩn bị chu đáo gồm một mâm cỗ Tam sinh: 1 thủ lợn, gà trống, vịt, rượu, hương hoa và hai mâm cả xôi, bánh, đồ mã...đặt ở vị trí làm lễ, trong bãi hội đồi Kéo Lếch. Thầy mo của bản sẽ thay mặt dân làng khấn thần linh, thành hoàng, thổ địa. Lời khấn cầu thể hiện nghi lễ tâm linh, tập trung vào việc báo cáo thành hoàng, thần Nông đã cho họ một vụ mùa bội thu và xin dâng cúng những thành quả từ sản phẩm nông nghiệp đã làm ra, đồng thời xin thần phù hộ cho một năm mới làm ăn tốt hơn. Sau khi khấn xong, thầy mo cầm một ít hạt thóc cúi lạy ngay trước bàn thờ bằng những động tác và lời thỉnh cầu tha thiết. Đó là nghi lễ hội xuống đồng.

Đi kèm với các nghi lễ cầu mùa, ở lễ hội Tình yêu còn có các hình thức hát giao duyên, đối đáp Sli, Lượn, các trò dân gian cầu mong những điều tốt lành đến với mình trong cuộc sống như các trò: tung còn, cày ruộng, múa sư tử.

Hát giao duyên đối đáp Sli, lượn: Đây là nội dung chính đặc sắc và hấp dẫn nhất làm nên nét đặc trưng văn hóa, nhân văn trong lễ hội tình yêu. Hình thức hát này tập trung nhất là trong ngày chính hội 21 tháng Giêng tại khu đồi Kéo Lếch.

Hát Sli: Là hát theo lối văn vần, thể thơ thất ngôn, tuy là ứng khẩu nhưng nghệ thuật ngôn từ trau chuốt, nội dung phong phú, thỉnh thoảng có xen kẽ tiếng tiếng Việt. Mỗi bên bạn hát thường có 2 người cùng hát, một người hát giọng cao, một người hát giọng thấp như hát bè, sau cuộc hát họ có thể tách thành từng đôi để tâm sự, tìm hiểu nhau nếu hai bên bạn hát đều ưng lòng nhau.

Qua các bài Sli, lượn, người nghe có thể hiểu được tình cảm cao đẹp, thơ mộng với những mơ ước, tâm tình của người dân và chân thật được gửi gắm qua tình cảm đôi lứa. Đồng thời cũng miêu tả những mối tình say đắm, vượt qua nhiều khó khăn, trắc trở để đạt được mục đích.

Trò múa sư tử: Đó là các đội sư tử mèo, báo đông, khỉ ...của người Tày, Nùngtrong xã Quốc Khánh và các xã lân cận khác như Hùng Sơn, Đại Đồng. Khi vào hội, các sư tử bắt đầu múa chung để người xem thưởng thức sự tài giỏi, khéo léo của mình trong các động tác kỹ thuật. Các động múa nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, có lúc khoan thai, dịu dàng, nhưng cũng có lúc dồn dập, mạnh mẽ theo tiếng nhạc. Khi vào cuộc người múa sư tử có thể luôn thay nhau để duy trì không khí nhịp nhàng và sức dẻo dai của mình đến cuối hội.

Trò ném còn: Đây là một trong những trò chơi sôi nổi, hấp dẫn và phổ biến nhất trong lễ hội. Nó không chỉ là trò giải trí đơn thuần mà là một hình thức giao duyên mang màu sắc, nghi lễ, tín ngưỡng phồn thực với ước vọng cầu chúc một năm mới no đủ, bội thu mùa màng, trai gái gần gũi, mọi vật sinh sôi nảy nở. Đối tượng tham gia ném còn đông nhất là các nam nữ thanh niên đến dự hội. Cuộc chơi kéo dài cho đến khi quả còn được ném xuyên qua Pỏng còn. Như thế là đã thành công viên mãn, với quan niệm âm dương đã giao hòa, mọi vật sẽ được sinh sôi.Sau khi kết thúc trò chơi này, thầy Mo dùng dao rạch quả còn lấy những hạt giống thiêng trong quả còn ban phát cho mọi người dự hội.

Ngày hội có nhiều nhiều ý nghĩa:Cố kết cộng đồng, là cơ hội để biểu dương sức mạnh cộng đồng, là dịp để dân làng quy tụ xung quanh vị thành hoàng làng với mục đích cuối cùng là củng cố ý thức cộng đồng, nâng cao khả năng kết cấu cộng đồng và cầu mùa đầu năm. Ngày hội còn là dịp biểu thi sức mạnh của cộng đồng. Trong dịp lễ hội mọi người đều thể hiện sự giao lưu, đoàn kết gắn bó nhau hơn …Giải trí hưởng thụ văn hóa, là cơ hội giải tỏa tâm lý của mọi người, là cơ hội để trình bày, trình diễn tinh hoa văn hóa của làng. Người ta đến với hội ngoài nhu cầu tâm linh thì còn đến để vui chơi, chơi thỏa thích, chơi thoải mái. Họ đến với hội trong tinh thần cộng cảm, hồ hởi, sảng khoái và hoàn toàn tự nguyện. Tuyên truyền, giáo dục, quảng bá, giới thiệu về văn hóa địa phương, nhắc nhở mọi thành viên của làng ý thức về cội nguồn, về đồng loại, về cái đẹp, về cách đối nhân xử thế giữa con người với con người, con người với xã hội và con người với thiên nhiên…hướng con người tới những giá trị chân, thiện, mỹ. Cân bằng đời sống tâm linh, hội diễn ra là để tưởng nhớ công lao của vị Thành hoàng làng đối với dân làng, là cơ hội để dân làng tỏ lòng thành kính, biết ơn đối với vị thần bảo hộ cho cộng đồng. Mở hội dân làng hi vọng rằng ước nguyện của toàn thể cộng đồng về một cuộc sống no đủ, giàu có, sung túc và binh an được trở thành hiện thực. Bảo lưu, trao truyền truyền thống lịch sử văn hóa dân tộc: Thông qua những lần mở hội các nghi thức, nghi lễ, các trò chơi dân gian có cơ hội được tái hiện, các tích về vị thần Thành hoàng làng, về truyền thống văn hóa, phong tục tập quán lại tiếp tục được khai mở… Do vậy dự hội làng người ta nhớ tới tổ tiên của làng, thực hiện một lề lối ứng xử tôn quý nhau.

Hội Thồng Báo Slao với những tiết mục văn nghệ, làn điệu Sli, lượn và các trò chơi dân gian như chọi chim, kéo co, tung còn, nhẩy bao bố... được diễn ra trong suốt cả ngày. Sắc áo chàm của các phụ nữ trung tuổi, các nam thanh, nữ tú tạo nên vẻ đẹp, nét riêng hấp dẫn của ngày hội.Sắc áo chàm của các phụ nữ trung tuổi, các nam thanh, nữ tú tạo nên vẻ đẹp, nét riêng hấp dẫn của ngày hội. Nhiều người đã lên chức bà nội, bà ngoại, nay lại được xúng xính trong các bộ quần áonâu chàm của dân tộc Tày, Nùng được may từ thời đi làm dâu đến với hội như một niềm tự hào. Hội không chỉ thu hút người ở trong xã mà còn có sự tham gia của rất đông đồng bào các xã, huyện lân cận. Khác với ngày xưa, những năm gần đây Hội thồng Báo Slao còn là ngày hội để mọi người cùng tập trung giao lưu với những món ăn, đồ uống mang đậm màu sắc văn hoá ẩm thực vùng miền. Từng nhóm bạn bè, người thân cùng nhau dựng trại trên núi, trên các sườn đồi quanh khu vực lễ hội để quay gà, vịt, lợn và thưởng thức những món đặc sản địa phương và những câu hát giao duyên được trai gái hát suốt ngày hội. Hội Thồng báo slao mấy năm trở lại đây không chỉ thu hút đồng bào các dân tộc trong khu vực tham gia mà còn trở thành nơi giao lưu văn hóa cho cư dân biên giới của Việt Nam là dịp để bạn bè, người thân, các cặp trai- gái có dịp gặp gỡ, tâm tình, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong lao động, sản xuất và cuộc sống...Như một nét đẹp riêng có,  Hội tình yêu vùng biên ải đã trở thành một đặc sản văn hóa của xã Quốc Khánh nói riêng và của huyện Tràng Định nói chung.

Ngày nay tổ chức hội Thồng Báo Slao xã Quốc Khánh huyện Tràng Định là hướng tới bảo lưu trao truyền một cách có hệ thống, thống nhất các nội dung, giá trị lịch sử văn hóa truyền thống của lễ hội cho thế hệ sau nhằm bảo tồn phát huy hiệu quả thuần phong mỹ tục tốt đẹp của địa phương trong việc giáo dục hình thành nhân cách con người, hướng con người đến giá trị chân – thiện – mỹ… để cùng nhau xây dựng cuộc sống của bản thân, gia đình và xã hội ngày càng phát triển./.

                                     Vi Thị Quỳnh Ngọc

 

 

 

Ngày 01/3/2021, nhân 71 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Triều Tiên, tại Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn, đồng chí Nông Đức Kiên - Giám đốc cùng đại diện lãnh đạo các phòng của Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn đã tiếp và làm việc với Đoàn công tác Đại sứ quán Triều Tiên tại Việt Nam do đồng chí Ri Ho Jun, Đại biện lâm thời Đại sứ quán Triền Tiên tại Việt Nam làm trưởng đoàn đến thăm quan Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn.

 Un1

Toàn cảnh buổi làm việc



                Tại buổi làm việc, đồng chí Nông Đức Kiên đã thông tin với Đoàn về công tác trưng bày, bảo quản gian trưng bày chuyên đề về chuyến thăm chính thức Việt Nam của Chủ tịch triều Tiên Kim Châng Ưn. Đồng chí Nông Đức Kiên khẳng định, Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn luôn tạo điều kiện thuận lợi để bảo quản gian trưng bày, tuyên truyền, giới thiệu với khách tham quan về mối quan hệ truyền thống Việt Nam - Triều Tiên để mối quan hệ Việt Nam - Triều Tiên ngày càng phát triển.

 

Un2

 

Đoàn Đại sứ quán Triền Tiên  tham quan gian trưng bày 

giới thiệu về chuyến thăm chính thức Việt Nam của Chủ tịch triều Tiên Kim Châng Ưn


Thay mặt cho đoàn công tác của Đại sứ quán Triền Tiên, đồng chí Ri Ho Jun bày tỏ sự cảm ơn đối với Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn. Đồng thời Đoàn mong muốn Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn quan tâm, tạo điều kiện để gian trưng bày giới thiệu về chuyến thăm chính thức Việt Nam của Chủ tịch triều Tiên Kim Châng Ưn là một điểm tham quan thu hút được nhiều khách du lịch, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Un3

Đoàn Đại sứ quán Triền Tiên  tham quan Ga Đồng Đăng


Sau buổi làm việc, Đoàn đại sứ quán Triều Tiên đã tham quan gian trưng bày tại Bảo tàng tỉnh và Ga Đồng Đăng - nơi Chủ tịch Đảng Lao động Triều Tiên, Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên Kim Châng Ưn đã đặt chân đầu tiên trong chuyến thăm chính thức Việt Nam.


Hoàng Minh Nguyệt

          Hội Hát Sli xã Tân Thành (còn gọi là:Hội xuân tháng giêng) là chợ hội truyền thống được tổ chức vào ngày mười lăm tháng giêng hàng năm diễn ra trong vòng một ngày tại thôn Bắc Lệ, xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn do UBND xã Tân Thành chủ trì, chủ thể lễ hội là cộng đồng dân tộc Nùng.

          Hát Sli là một làn điệu dân ca đặc sắc trong kho tàng văn nghệ dân gian của đồng bào dân tộc Nùng ở Lạng Sơn. Hát Sli đã có từ rất lâu đời, được truyền từ đời này sang đời khác trong cộng đồng người dân tộc Nùng. Chúng ta thường gặp các tốp thanh niên nam - nữ hát đối đáp, giao duyên với nhau tại các lễ hội, chợ hội, ngày cưới và ngày vào nhà mới… Hội Hát Sli thường được tổ chức vào mùa xuân. Có thể nói mùa xuân là mùa của lễ hội. Đây là điều phù hợp trong đời sống, bởi thời vụ năm trước đã gặt hái xong. Hội được tổ chức trang trọng và đầy đủ các hình thức hoạt động hội một hình thức sinh hoạt văn hóa đặc biệt, quan trọng bậc nhất vào dịp đầu năm mới, tổng hợp các mặt về tinh thần, vật chất, văn hóa đời thường, tình cảm lứa đôi, quy tụ những sắc thái văn hóa đặc trưng, gắn liền với nhân dân. Hát sli là thể hiện tài hoa đối đáp bằng ngôn ngữ dân ca. Từ lâu, người Nùng đã duy trì loại hình hát sli trong các sự kiện biểu diễn; hát sli để bày tỏ tình cảm. Sau các cuộc hát sli tại lễ hội, biết bao đôi thanh niên đã nên vợ, nên chồng…

 sli1

Lễ khai mạc Hội hát Sli xã Tân Thành(Ảnh TL)

 

 sli2

Nhân dân xã Tân thành trong ngày Hội hát Sli tại chợ Bắc Lệ ( Ảnh TL)

 

Ngày 15 tháng Giêng âm lịch hàng năm, tại nhà văn hóa thôn Bắc Lệ, UBND xã Tân Thành duy trìtổ chức hội hát sli truyền thống. Tham dự hội hát Sli có các nghệ nhân hát sli của xã Tân Thành và đến từ các xã lân cận trên địa bàn huyện, cùng các huyện Chi Lăng, Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Bắc Giang.Với mục đích lưu truyền những làn điệu sli, là nét đẹp văn hóa của dân tộc và khôi phục lại truyền thống hội hát sli đã có từ xa xưa của nhân dân các dân tộc Tày, Nùng trên địa bàn. Tại hội hát sli, nhân dân và du khách đến đây đã được nghe, xem các nghệ nhân thể hiện những làn điệu sli về mùa xuân, sli chào hỏi, sli đối đáp… Các nghệ nhân chia thành từng tốp cả nam và nữ tách khỏi đám đông, tìm một chỗ ngồi thích hợp để hát. Đây là dịp để các nghệ nhân hát những làn điệu sli cổ từ đó để giữ gìn và truyền dạy lại cho các thế hệ trẻ những làn điệu sli truyền thống của dân tộc, khôi phục lại hội hát sli đã và đang bị mai một, đồng thời giới thiệu tới du khách thập phương về nét văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Tày, Nùng địa phương. Sli trong tiếng Nùng nghĩa là “thơ”, hát sli là hình thức hát giao duyên thể hiện qua các câu thơ, được biểu diễn dưới dạng đối đáp các cặp nam nữ. Thông thường sli có 3 lối hát cơ bản là hát nói (đọc thơ); xướng sli (ngâm thơ) và dằm sli hoặc nhằm sli (lên giọng hát). Ở Lạng Sơn hiện nay có bốn ngành Nùng chính, trong đó, Nùng Cháo có sli Slình Làng, Nùng Phàn Slình có sli Sloong Hau, Nùng Inh có Sli Inh, Nùng An có hát Hèo.

Hội hát Sli xã Tân Thành được tổ chức thường niên vào dịp đầu xuân nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, đồng thời tạo ra một sân chơi để các nghệ nhân thể hiện tài năng cũng như truyền lại cho con cháu những làn điệu sli.

              sli3

Nhân dân xã Tân thành trong ngày Hội hát Sli tại chợ Bắc Lệ ( Ảnh TL)

 

Hội hát Sli xã Tân Thành được tổ chức là dịp để các nghệ nhân được thể hiện tài năng của mình, được giao lưu vốn văn hóa đặc sắc của dân tộc, của địa phương. Bên cạnh đó còn là dịp để giới thiệu, truyền cảm hứng về nét văn hóa bản địa tới du khách và các thế hệ trẻ, đồng thời duy trì thành lễ hội thường niên để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín BCHTW Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước./.

 

                                                   Vi Thị Quỳnh Ngọc

 

 

 

 

 

 

 

 

          Nhân dịp kỷ niệm 71 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Triều Tiên (31/01/1950 -31/01/2021). Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn giới thiệu một số hình ảnh, hiện vật về chuyến thăm chính thức Việt Nam của Chủ tịch triều Tiên Kim Châng Ưn. Nhằm ôn lại truyền thống hữu nghị giữa Việt Nam và Triều Tiên trong suốt 71 năm qua và khẳng định Lạng Sơn rất vinh dự và tự hào là điểm đầu tiên được đón và tiễn Chủ tịch Đảng Lao động Triều Tiên Kim Châng Ưn nhân dịp Hội nghị thưởng đỉnh Mỹ - Triều và thăm chính thức Việt Nam tháng 3/2019. Gian trưng bày là một hoạt động thiết thực góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ phát huy truyền thống hữu nghị hợp tác giữa hai nước.

 Một số hình ảnh về chủ tịch Kim Châng Ưn tại tỉnh Lạng Sơn:

 u1

Đúng 8 giờ 30 phút, ngày 26/02/2019 đoàn tàu bọc thép chở Chủ tịch Kim Châng Ưn

đến Ga quốc tế Đồng Đăng, Lạng Sơn

 

 u2

Tặng hoa, chào mừng Chủ tịch Kim Châng Ưn và đoàn đại biểu Triều Tiên đến thăm Việt Nam, tại Ga quốc tế Đồng Đăng

 

u3

Đồng chí Võ Văn Thưởng Uy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương tiễn Chủ tịch Kim Châng Ưn

tại Ga quốc tế Đồng Đăng Chủ tịch Kim Châng Ưn hạ kính xe vẫy tay chàonhân dân bên ngoài nhà Ga quốc tế Đồng Đăng

 

u4

 Chủ tịch Kim Châng Ưn hạ kính xe vẫy tay chàonhân dân bên ngoài nhà Ga quốc tế Đồng Đăng


u5

Chủ tịch Kim Châng Ưn vẫy chào các đại biểu và người dân Lạng Sơntại Ga quốc tế Đồng Đăng

 

u6

Chủ tịch Kim Châng Ưn chào tạm biệt đại biểu và Nhân dân các dân tộc tinh Lạng Sơn ra tiễn

tại Ga quốc tế Đồng Đăng trước khi lên tàu rời Việt Nam

 

Một số hình ảnh khách tham quan gian triển lãm:

Kim Un 33

Đồng chí Dương Xuân Huyên - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn  phát biểu 

tại Lễ khánh thành gian trưng bày hình ảnh, hiện vật về chuyến thăm chính thức Việt Nam

của Chủ tịch Triều Tiên Kim Châng Ưn

 

 u8

 Các đồng chí lãnh đạo cắt băng khánh thành gian trưng bày

  

 u9

Các đồng chí lãnh đạo tham quan gian trưng bày chuyên đề


kim Un 66

Các đồng chí lãnh đạo tham quan gian trưng bày cố định tại Bảo tàng

 

Kim Un 52

Các đồng chí lãnh đạo chụp ảnh lưu niệm tại Bảo tàng 

 

u12 

Học sinh trường tiểu học và Trung học cơ sở Thống Nhất, xã Thống Nhất, huyện Lộc Bình

đã đến tham quan, học tập và chụp ảnh lưu niệm tại gian triển lãm

   

  u13

Học sinh các trường mầm non trên địa bàn huyện Chi Lăng chụp ảnh lưu niệm tại gian triển lãm

 

u14 

Học sinh trường Trung học cơ sở Tân Mỹ, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng đã đến tham quan, học tập tại gian triển lãm

 

 u15

Học sinh trường Trung học cơ sở Tân Mỹ, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng đã đến tham quan, học tập tại gian triển lãm

 

 

 u16

Học sinh trường Trung học cơ sở Tân Mỹ, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng đã đến tham quan, học tập tại gian triển lãm


Hoàng Minh Nguyệt

 

 

Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn ngày 27/7/1940 là một sự kiện lịch sử có ý nghĩa đặc biệt của đất nước “Là tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng vũ lực của các dân tộc Đông Dương”[1]. Khởi nghĩa Bắc Sơn mở đầu cho một thời kỳ mới của Cách mạng nước ta - thời kỳ sử dụng bạo lực cách mạng, đấu tranh đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, tiến tới tổng khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân. Tiếp nối Bắc Sơn, nhiều cuộc khởi nghĩa, bạo động vũ trang đã nổ ra trên khắp mọi miền đất nước: khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940), khởi nghĩa Đô Lương (1/1941), cao trào kháng Nhật cứu nước… Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn là thành quả to lớn của Cách mạng Việt Nam, là kết quả của quá trình xây dựng lực lượng, đấu tranh cách mạng lâu dài gắn liền với sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng, sự cống hiến, hy sinh của các chiến sỹ cách mạng và nhân dân. Trong đó có đồng chí Lương Văn Tri – người con ưu tú của quê hương Văn Quan, xứ Lạng, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, chỉ huy trưởng đội du kích Bắc Sơn, Chỉ huy trưởng - Chính trị viên đội Cứu quốc quân I. Đóng góp, cống hiến của đồng chí đối với khởi nghĩa Bắc Sơn tập trung, thể hiện rõ nét ở thời kỳ xây dựng phát triển phong trào Cách mạng Bắc Sơn và củng cố, duy trì lực lượng sau khởi nghĩa. Đó cũng chính là khoảng thời gian đồng chí trực tiếp hoạt động ở đây.

         Đồng chí Lương Văn Tri, người dân tộc Tày, sinh ngày 13 tháng 7 năm Canh Tuất (tức ngày 17/8/1910) tại làng Bản Hẻo, tổng Mỹ Liệt, châu Văn Uyên, tỉnh Lạng Sơn (nay là thôn Bản Hẻo, xã Trấn Ninh, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn).                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                           Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, hiếu học, có tinh thần yêu nước, thương dân, đồng chí đã sớm mang trong mình tình yêu quê hương đất nước cùng những hoài bão, ước vọng lớn lao của tuổi trẻ. Những năm học tập dưới mái trường Tiểu học Pháp – Việt (thị xã Lạng Sơn), đồng chí đã cùng với người bạn học thân thiết, cùng chí hướng là Hoàng Văn Thụ (quê ở bản Phạc Lạn, xã Nhân Lý, châu Văn Uyên) tích cực tham gia hoạt động yêu nước, trở thành những hạt nhân, nòng cốt của phong trào. Hoàng Văn Thụ, Lương Văn Tri đã đứng ra lập nên nhóm thanh niên yêu nước của trường, tham gia các các hoạt động: nghiên cứu, tìm đọc báo Thanh Niên, tuyên truyền tài liệu của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên trên địa bàn thị xã, đấu tranh đòi thả nhà yêu nước Phan Bội Châu (1925), để tang nhà yêu nước Phan Chu Trinh (1926) do Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên phát động trong cả nước... Tháng Giêng năm 1928, đồng chí Lương Văn Tri đã cùng với người bạn học cùng chí hướng Hoàng Văn Thụ vượt qua biên giới tìm đến liên lạc với tổ chức Việt Nam cách mạng thanh niên hội ở Bản Đảy (Bằng Tường, Trung Quốc). Thời kỳ 1928- 1936, đồng chí đã tham gia hoạt động Cách mạng, học tập ở thị trấn Long Châu, Nam Ninh, Quảng Châu… (Trung Quốc). Tại đây, đồng chí đã được kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (năm 1928), Đông Dương Cộng sản Đảng - một trong các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam (Tháng 12/1929). Ngày 3/2/1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trên cơ sở hợp nhất ba tổ chức cộng sản: Đông dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương cộng sản liên đoàn thì đồng chí Lương Văn Tri và Hoàng Văn Thụ của Lạng Sơn đã trở thành những đảng viên đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng chí đã có nhiều hoạt động tích cực ở Trung Quốc: xây dựng cơ sở quần chúng trung kiên, các trạm liên lạc bí mật ở Long Châu (Nam Ninh), tham gia tổ chức huấn luyện, đào tạo cán bộ làm nòng cốt cho phong trào Cách mạng của Lạng Sơn, Cao Bằng (1930-1931)... Đồng thời tuyên truyền, vận động, xây dựng những cơ sở cách mạng đầu tiên ở Khưa Đa, Ma Mèo, Tà Lài (Văn Uyên) - đặt nền móng, tạo tiền đề cho hoạt động Cách mạng của tỉnh Lạng Sơn. Được sự tín nhiệm của tổ chức Đảng, thời kỳ 1931-1935 đồng chí Lương Văn Tri được cử đi học tại Trường Quân sự Hoàng Phố tại Quảng Châu để đưa trở về Việt Nam hoạt động. Sau khi tốt nghiệp xuất sắc trường Quân sự Hoàng Phố, năm 1936, thực hiện chủ trương của Đảng, đồng chí đã trở về Lạng Sơn cùng với đồng chí Hoàng Văn Thụ, Mã Khánh Phương để xây dựng, phát triển phong trào cách mạng của tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên. Bắc Sơn là điểm đến đầu tiên của đồng chí khi trở về hoạt động Cách mạng ở trong nước sau những tháng ngày bôn ba ở hải ngoại. Viết về sự kiện này, sách “Đời hoạt động Cách mạng của chí Lương Văn Tri” do Ban chấp hành Đảng bộ huyện Văn Quan xuất bản năm viết: “Khoảng tháng 5/1936, đồng chí Hoàng Văn Thụ, Lương Văn Tri, Mã Khánh Phương được Đảng cử vào Bắc Sơn gây dựng cơ sở Cách mạng”.[2] Cũng cuốn sách trên cho biết, sáng ngày 8/5/1936, đồng chí đã đến điểm hẹn với đồng chí Hoàng Văn Thụ tại bến đò Bản Thẳm (Song Giang, Văn Quan) để cùng nhau đi vào Bắc Sơn hoạt động. Đây chính là thời điểm quan trọng ghi mốc dấu thời gian bắt đầu hoạt động của đồng chí ở Bắc Sơn. Bằng những kiến thức chính trị, quân sự đã được đào tạo bài bản ở Trung Quốc, cùng với kinh nghiệm nhiều năm hoạt động ở vùng biên giới Việt - Trung, đồng chí đã có nhiều hoạt động tích cực, những đóng góp xuất sắc đối với phong trào Cách mạng của Bắc Sơn nói chung và cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn nói riêng. Vai trò, đóng góp của đồng chí đối với khởi nghĩa Bắc Sơn được thể hiện rõ nét ở những góc độ sau:

          1. Trực tiếp xây dựng cơ sở quần chúng trung kiên, làm nòng cốt cho phong trào Cách mạng:  

          Ngay sau khi đến Bắc Sơn, đồng chí Lương Văn Tri đã cùng đồng chí Hoàng Văn Thụ tới Vũ Lăng – nơi có những người họ hàng thân thích của đồng chí Mã Khánh Phương như Mã Viết Thốn, Mã Viết Linh… để gây dựng và phát triển cơ sở quần chúng. Dựa vào các mối quan hệ quen biết đó, các đồng chí đã tích cực tổ chức tuyên truyền, giác ngộ quần chúng; vận động, tập hợp quần chúng trung kiên làm nòng cốt cho phát triển phong trào cách mạng. Bên cạnh đó, được sự hỗ trợ tích cực của nhóm thanh niên yêu nước như Đường Kỳ Tân, Nguyễn Văn Phòng (tức Mai Huyền), Hoàng Doãn Tạo (tức Hà Khai Lạc), Đường Văn Tư…, các đồng chí đã tiếp tục phát triển, mở rộng việc xây dựng cơ sở quần chúng sang các xã lân cận như Vũ Lễ, Hữu Vĩnh, Ngư Viễn, Vũ Sơn, Hưng Vũ… Các cơ sở quần chúng trên đây là “cánh tay” tin cậy của Đảng, góp phần quan trọng trong việc hình thành địa bàn cách mạng, mạng lưới liên lạc, tạo thuận lợi cho Xứ ủy Bắc Kỳ trong việc chỉ đạo phong trào Cách mạng ở Bắc Sơn và ba tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên. Phong trào phát triển mạnh mẽ góp phần tạo nên thời cơ khởi nghĩa. Ngay trong ngày khởi nghĩa, các cơ sở quần chúng trung kiên chính là những nhân tố tích cực, là lực lượng nòng cốt tạo nên sức mạnh quần chúng lật đổ chính quyền thực dân phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân.

          2. Xây dựng và phát triển cơ sở Đảng để chỉ đạo phong trào Cách mạng và chỉ huy khởi nghĩa:

          Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đối với phong trào Cách mạng nói chung và khởi nghĩa Bắc Sơn nói riêng. Bởi nếu không có tổ chức Đảng mạnh, vững chắc thì khó có thể có cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã đi vào lịch sử đó. Chi bộ đảng, các đồng chí đảng viên ở Bắc Sơn là những người lĩnh hội và triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng. Đồng thời quyết định thời gian, phương thức tiến hành khởi nghĩa. Do vậy công tác xây dựng cơ sở Đảng ở Bắc Sơn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn ngày 27/9/1940.

          Song song với việc xây dựng các cơ sở quần chúng, đồng chí Lương Văn Tri và các đồng chí của mình đã xúc tiến việc thành lập các tổ chức Đảng. Họ đã giao nhiệm vụ phát triển cơ sở Đảng cho anh Đường Văn Thông – lúc này đang hoạt động tích cực ở Vũ Lăng. Công tác bồi dưỡng các thanh niên, quần chúng ưu tú được chú trọng. Qua quá trình rèn luyện, thử thách, ngày 25/9/1936, tại thôn Mỏ Tát (xã Vũ Lăng), đồng chí Hoàng Văn Thụ đã tổ chức kết nạp Đảng viên, tuyên bố thành lập chi bộ đảng đầu tiên ở Bắc Sơn gồm 4 đồng chí: Đường Kỳ Tân, Nguyễn Văn Phòng (tức Mai Huyền), Hoàng Doãn Tạo (tức Hà Khai Lạc), Đường Văn Tư. Đồng chí Đường Kỳ Tân được cử là Bí thư. Đây là một trong hai chi bộ đảng được thành lập sớm nhất ở Lạng Sơn (sau chi bộ Thụy Hùng ở Văn Uyên). Từ đây, Bắc Sơn đã có chi bộ Đảng lãnh đạo các cuộc đấu tranh ở địa phương một cách có tổ chức. Từ hạt nhân đó tiếp tục phát triển đảng ở các xã khác của châu Bắc Sơn.

          Cuối năm 1936 đến giữa năm 1938 là khoảng thời gian đồng chí Lương Văn Tri trực tiếp hoạt động tại địa bàn Bắc Sơn. Dưới sự lãnh đạo, tổ chức của đồng chí Hoàng Văn Thụ, Lương Văn Tri và đồng chí Lê Xuân Thụ (do xứ ủy Bắc Kỳ cử về), công tác xây dựng cơ sở Đảng ở Bắc Sơn chú trọng, đẩy mạnh. Bên cạnh việc củng cố, kiện toàn chi bộ Bắc Sơn ngày càng vững mạng, các đồng chí đã tăng cường, mở rộng các cơ sở đảng ở châu Bắc Sơn. Sách Lịch sử đấu tranh Cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Bắc Sơn (1930-1945) cho biết: “Chi bộ Bắc Sơn đã được củng cố kiện toàn về cả chất lượng lẫn số lượng. Các tổ chức Đảng và phong trào của nhân dân Bắc Sơn đã phát triển cả bề rộng lẫn cả bề sâu…”[3]. Công tác xây dựng Đảng được quan tâm chú trọng, phát triển mạnh mẽ dẫn đến sự ra ra đời của Ban cán sự châu ủy Bắc Sơn (tháng 5/1938) và hàng loạt chi bộ ở Bắc Sơn vào cuối năm 1938 như: chi bộ xã Vũ Lăng, Hữu Vĩnh, Hưng Vũ, Vĩnh Yên, Vũ Địch, Bắc Sơn, Chiêu Vũ, Ngư Viễn, Vũ Lễ… Ban cán sự châu ủy Bắc Sơn và các chi bộ Đảng ở đây là tổ chức trực tiếp lãnh đạo, chỉ phong trào Cách mạng Bắc Sơn. Vai trò của tổ chức đảng và các đảng viên ở Bắc Sơn trong khởi nghĩa được thể hiện rất rõ nét:

- Ngày 26/9/1940, cuộc họp ở đình Nông Lục (xã Hưng Vũ) giữa các đồng chí đảng viên mới thoát khỏi nhà tù trở về (Hoàng Đình Ruệ, Nông Văn Cún) với chi bộ Hưng Vũ đã đưa ra quyết định chủ trương, kế hoạch khởi nghĩa.

- Hội nghị giữa các tổ đảng và các chiến sĩ cộng sản từ Lạng Sơn trở về tổ chức sáng ngày 27/9/1940 đã thông qua chủ trương khởi nghĩa và và quyết định phát động đấu tranh vũ trang ngay ngày hôm đó.

- Ban chỉ huy khởi nghĩa, Ban phụ trách trận đánh đồn Mỏ Nhài (mở đầu cho khởi nghĩa) là những đảng viên cốt cán của các chi bộ ở Bắc Sơn: Hoàng ăn Hán, Dương Công Bình, Hoàng Đình Ruệ, Đường Văn Thức, Thái Long…

Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và phong trào cách mạng Bắc Sơn trước và sau đó luôn đặt dưới sự chỉ đạo của tổ chức đảng, gắn liền với các đảng viên. Họ luôn là lực lượng nòng cốt, tiên phong của phong trào. Đồng chí Lương Văn Tri là người đã cùng đồng chí Hoàng Văn Thụ gieo những “hạt giống đỏ” đầu tiên trên mảnh đất Bắc Sơn giàu truyền thống; xây dựng, phát triển tổ chức đảng ở Bắc Sơn đủ mạnh mẽ, vững vàng để lĩnh hội, gánh vác vai trò, sứ mệnh lớn lao của lịch sử.

          3. Tổ chức, chỉ đạo phong trào Cách mạng phát triển ngày càng mạnh mẽ, tạo lực lượng Cách mạng cho khởi nghĩa Bắc Sơn:

          Thời kỳ hoạt động ở Bắc Sơn, bên cạnh việc xây dựng tổ chức đảng, phong trào quần chúng, đồng chí Lương Văn Tri đã nỗ lực tham gia chỉ đạo phong trào cách mạng ở đây. Đặc biệt là từ khi Bắc Sơn có chi bộ Đảng. Thông qua chi bộ đảng, đồng chí Lương Văn Tri và Hoàng Văn Thụ đã tích cực lãnh đạo phong trào quần chúng của Bắc Sơn chống lại áp bức bóc lột, đòi các quyền tự do dân chủ. Cụ thể là kiện một số lý trưởng tự tiện tăng thuế thu chi hàng xã, thuế ngoại phụ, thuế điền; kiện bọn tổng, lý hà hiếp nhân dân trong việc bắt phu, bắt lính, thu thuế. Bên cạnh đó còn vận động nhân dân chống đi phu, đánh đập phu phen, tạp dịch… Lãnh đạo quần chúng đấu tranh công khai dưới các khẩu hiệu như “chống phát xít”, chống phản động”, đòi quyền tự do đi lại giữa các vùng… Dưới sự đấu tranh quyết liệt của quần chúng, nhiều tên chức sắc tay sai khét tiếng ở các xã như Chánh Hương (xã Vũ Lăng), Lý Cơ (xã Hữu Vĩnh)… đã phải nương tay, chùn bước; một số tên đã phải chấp nhận các yêu sách chính đáng của nhân dân. Có thể thấy, phong trào quần chúng của Bắc Sơn đã diễn ra dưới nhiều hình thức ngày càng phong phú, thiết thực và hiệu quả hơn. Qua đó có tác dụng thức tỉnh tinh thần đấu tranh của quần chúng nhân dân; từng bước tôi luyện bản lĩnh, phương pháp đấu tranh cách mạng của họ - những yếu tố quan trọng dẫn đến cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn sau này. Khi quần chúng đã được giác ngộ cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phương pháp đấu tranh hiệu quả thì việc vùng lên khởi nghĩa, lật đổ chính quyền tay sai phong kiến là một hệ quả tất yếu của phong trào Cách mạng Bắc Sơn. Từ cuối tháng 11/1939, đồng chí Lương Văn Tri được tín nhiệm bầu vào Ban Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, trở về TW chỉ đạo phong trào Cách mạng của Bắc Kỳ. Theo các tư liệu lịch sử, phong trào cách mạng ở Bắc Sơn luôn nhận được sự quan tâm của, chỉ đạo sát sao của Xứ ủy về phương hướng hoạt động, biện pháp vận động quần chúng đấu tranh... Trong thời gian này, phong trào đấu tranh của nhân dân Bắc Sơn tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Nhiệm vụ trung tâm của phong trào lúc này là vận động, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân thành một lực lượng cách mạng rộng lớn, sẵn sàng đón lấy thời cơ mới. Lúc này, “Chi bộ các xã đã đã nhanh chóng tổ chức các đội tự vệ. Nhiều thanh niên, phụ nữ các dân tộc trong huyện đã hăng hái tham gia tự vệ. Họ bỏ tiền ra mua sắm súng kíp, kiếm, mã tấu, gậy gộc… để trang bị cho mình[4]. Khi khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra ngày 27/9/1940, các đội tự vệ có trang bị vũ khí này chính là thành phần, lực lượng quan trọng tham gia đánh đồn Mỏ Nhài, cướp chính quyền về tay nhân dân. Sự chỉ đạo cách mạng Bắc Sơn của Xứ ủy Bắc Kỳ khi đó luôn có sự tham gia của đồng chí Lương Văn Tri với vai trò là Ủy viên Ban Thường vụ xứ ủy. Đóng góp của đồng chí Lương Văn Tri trong việc tổ chức, xây dựng lực lượng cách mạng cho cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn là vấn đề hết sức quan trọng, góp phần quyết định thành công của cuộc khởi nghĩa.    

4. Trực tiếp tham gia củng cố, duy trì phong trào sau khởi nghĩa Bắc Sơn:

Ngày27/9/1940, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (Lạng Sơn) bùng nổ vàgiành thắng lợi. Ít lâu sau, thực dân Pháp đã thỏa hiệp, câu kết với Phát xít Nhật quay trở lại đàn áp lực lượng khởi nghĩa. Trước tình hình đó, Trung Ương Đảng đã cử đồng chí Trần Đăng Ninh, Uỷ viên Ban Thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ về Bắc Sơn trực tiếp lãnh đạo phong trào và  hướng cuộc khởi nghĩa vào mục tiêu xây dựng lực lượng để chiến đấu lâu dài. Ngày 14/10/1940, cuộc họp tại Sa Khao (xã Tân Hương) đã quyết định thành lập đội du kích Bắc Sơn trên cơ sở tập hợp đảng viên và một số quần chúng tích cực. Ngày 16/10/1940, tại làng Đon Úy, xã Vũ Lăng, đồng chí Trần Đăng Ninh đã tuyên bố thành lập đội du kích Bắc Sơn. Hội nghị Trung ương Đảng họp ngày 06 đến ngày 09/11/1940 tại Đình Bảng, Bắc Ninh đã quyết định duy trì đội du kích Bắc Sơn, phát triển lực lượng, tiến tới thành lập căn cứ địa Bắc Sơn – Võ Nhai. Đồng chí Hoàng Văn Thụ - Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng được giao nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện Nghị quyết này.

Tháng Giêng năm 1941, đồng chí Lương Văn Tri được Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ phân công làm Chỉ huy trưởng đội Du kích Bắc Sơn, triển khai kế hoạch của Trung ương xây dựng căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai. Trung tâm căn cứ du kích đặt tại rừng Khuổi Nọi (xã Vũ Lễ, huyện Bắc Sơn). Đồng chí đã trở thành cán bộ cốt cán duy trì, củng cố phong trào thời gian sau khởi nghĩa Bắc Sơn.

Với chức trách được giao, đồng chí đã chủ động nắm bắt tình hình hoạt động, những khó khăn của các cơ sở quần chúng cách mạng ở Bắc Sơn để chỉ đạo hoạt động. Đồng thời nhanh chóng bắt tay vào tập hợp, củng cố đội du kích Bắc Sơn, thành lập các đội tự vệ, sắm thêm vũ khí, tổ chức luyện tập theo kỹ chiến thuật đánh du kích cho các đội viên. Tại căn cứ du kích, đồng chí đã chỉ đạo mở một số lớp huấn luyện quân sự, chính trị cho Đội du kích Bắc Sơn, các học viên được tuyển chọn từ các xã của châu Bắc Sơn và cán bộ các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh. Nội dung huấn luyện gồm những kiến thức cơ bản về chiến thuật quân sự, công tác vận động quần chúng; tuyên truyền, tổ chức quần chúng đấu tranh từ hình thức thấp đến cao, từ đấu tranh chính trị tiến lên đấu tranh vũ trang. Thực hiện nhiệm vụ xây dựng, củng cố căn cứ địa Bắc Sơn – Võ Nhai, đội du kích Bắc Sơn do đồng chí chỉ huy còn tích cực tiến hành tuyên truyền trên địa bàn, cùng với nhân dân tăng gia sản xuất, đảm bảo lương thực, thực phẩm, mở rộng phạm vi hoạt động sang các huyện lân cận, bí mật gây dựng lại các cơ sở Đảng và quần chúng…

Với sự nỗ lực của đồng chí Lương Văn Tri và các đồng chí cán bộ Xứ ủy Bắc Kỳ về tăng cường, chỉ trong một thời gian ngắn, cơ sở cách mạng ở Bắc Sơn (Lạng Sơn), Võ Nhai (Thái Nguyên) đã có bước phát triển mới. Vùng rừng núi hiểm trở có địa thế nối liền nhau thuộc các xã Vũ Lăng, Vũ Lễ, Hữu Vĩnh, Ngư Viễn (Bắc Sơn) và Lâu Thượng, Phú Thượng, Tràng Xá (Võ Nhai) đã trở thành khu căn cứ địa vững mạnh của Đội du kích, trong đó căn cứ Khuổi Nọi là trung tâm. Từ đây có thể triển khai nhanh chóng lực lượng đến Võ Nhai sang Đồng Hỷ, Đại Từ, Phú Lương (Thái Nguyên), xuống Yên Thế (Bắc Giang), lên Na Rì (Bắc Cạn), qua Hữu Lũng, Bằng Mạc (Lạng Sơn). Các lớp huấn luyện quân sự, huấn luyện chính trị của Xứ uỷ Bắc Kỳ do đồng chí Lương Văn Tri phụ trách được mở tại căn cứ Khuổi Nọi đã đào tạo được nhiều cán bộ cho phong trào cách mạng các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang... Từ đội du kích đầu tiên được đồng chí Trần Đăng Ninh thành lập đã hình thành trung đội du kích Bắc Sơn. Phong trào cách mạng ở Bắc Sơn sau thời gian bị thực dân Pháp khủng bộ đã được khôi phục và phát triển, tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự hình thành và phát triển phong trào cách mạng ở các châu lân cận như Bình Gia, Bằng Mạc và Hữu Lũng.

Tháng 2 năm 1941, đoàn đại biểu Trung ương Đảng gồm các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh… trên đường đi dự Hội nghị Trung ương lần thứ 8 do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập ở Pác Bó (Cao Bằng) đã dừng chân ở Khuổi Nọi, Vũ Lễ (Bắc Sơn). Tại đây, các đồng chí Trung ương đã họp với Đảng bộ Bắc Sơn và Ban chỉ huy Đội du kích Bắc Sơn để nắm tình hình, phổ biến chủ trương của Đảng và các biện pháp công tác cần kíp. Đồng chí Hoàng Văn Thụ, Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ đã thông báo, phổ biến quyết định của Trung ương, đổi tên Đội du kích Bắc Sơn thành Cứu quốc quân.

Ngày 23 tháng 02 năm 1941, Đội cứu quốc quân I làm lễ chính thức thành lập tại căn cứ Khuổi Nọi, xã Vũ Lễ, huyện Bắc Sơn, gồm 32 cán bộ, chiến sĩ. Đây là đơn vị vũ trang đầu tiên của Đảng và dân tộc, tiền thân của quân đội nhân dân Việt Nam. Đồng chí Lương Văn Tri được Trung ương chỉ định làm Chỉ huy trưởng Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn. Ngay sau khi thành lập, đội Cứu quốc quân đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đưa đường, bảo vệ an toàn cho đoàn cán bộ cao cấp của đảng đi dự Hội Nghị TW 8 ở Cao Bằng. .

Với vai trò người Chỉ huy trưởng, đồng chí Lương Văn Tri đã tích cực quán xuyến, triển khai việc biên chế lại các tiểu đội của Cứu quốc quân Bắc Sơn; phân công cán bộ, chiến sĩ phụ trách các địa bàn, tăng cường hoạt động tuyên truyền, vận động, phát triển cơ sở quần chúng cách mạng, từng bước mở rộng khu căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai. Trung tâm căn cứ Khuổi Nọi được tăng cường bố trí lán trại, chuẩn bị thêm bãi tập để tiếp tục tổ chức các lớp huấn luyện quân sự, trang bị kiến thức cơ sở về quân sự cho lớp cán bộ quân sự đầu tiên của nhiều tỉnh, thành; phát hành bản tin “Du kích” do đồng chí là chủ bút để làm tài liệu tuyên truyền trong quá trình vận động, phát triển phong trào cách mạng, xây dựng căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai. Với những việc làm tích cực đó, đội vũ trang đầu tiên của Đảng ngày càng trở nên chính quy hơn, căn cứ địa Bắc Sơn – Võ Nhai được xây dựng, củng cố vững chắc, trở thành chiến khu Cách mạng của cả nước. Tháng 6/1941, đội Cứu quốc quân do đồng chí Lương Văn Tri phụ trách tiếp tục làm nhiệm vụ đón tiếp và bảo vệ an toàn cho đoàn cán bộ TW Đảng đi họp Hội nghị TW 8 trở về, vượt qua sự lùng sục, khủng bố gắt gao của địch.

Tháng 7 năm 1941, trước yêu cầu hoạt động của Đội Cứu quốc quân và việc xây dựng củng cố căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã chỉ định Ban lãnh đạo mới của căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai. Đồng chí Phùng Chí Kiên, Uỷ viên Trung ương Đảng được Trung ương giao nhiệm vụ Chỉ huy trưởng căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, kiêm Chỉ huy trưởng Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn. Đồng chí Lương Văn Tri, Uỷ viên Ban Thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ được Trung ương chỉ định làm Chính trị viên Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn.

Lo sợ trước hoạt động mạnh mẽ của Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn, ngày 25/7/1941, thực dân Pháp huy động lực lượng lớn tiến hành một cuộc đàn áp, khủng bố khốc liệt quy mô lớn đối với căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai. Nhiều làng bản bị đốt phá, triệt hạ; quần chúng cách mạng bị bắt bớ tù đày, tra tấn dã man hoặc giết hại; dân làng bị dồn vào khu tập trung tại Đàng Lang, xã Quỳnh Sơn (nay là xã Bắc Quỳnh) để hòng “tát nước bắt cá”, tiêu diệt Đội cứu quốc quân Bắc Sơn. Tình hình trở nên nguy cấp do sự vây ráp, chênh lệch lực lượng giữa ta và địch. Trước tình thế đó, đồng chí Chỉ huy trưởng Phùng Chí Kiên, Chính trị viên Lương Văn Tri đã họp bàn với Đảng bộ Bắc Sơn quyết định rút toàn bộ Đội Cứu quốc quân ra khỏi Bắc Sơn. Trên đường rút quân, do có sự khai báo của một tên chánh tổng phản động ở châu Na Rì (Bắc Kạn), đồng chí Lương Văn Tri cùng các đồng chí của mình bị quân địch bao vây. Trong cuộc chiến không cân sức ấy, đồng chí Phùng Chí Kiên đã anh dũng hy sinh, đồng chí Lương Văn Tri trúng đạn bị thương nặng. Kẻ địch bắt giam đồng chí tại Ngân Sơn (Bắc Cạn) và đưa về giam giữ ở nhà tù của thực dân Pháp tại thị xã Cao Bằng. Do bị thương nặng, lại bị địch tra tấn dã man, ngày 29/9/1941, đồng chí đã trút hơi thở cuối cùng tại nhà tù Cao Bằng. Từ đó, phong trào Cách mạng Bắc Sơn cũng tạm lắng xuống.

Có thể thấy, sự hình thành và phát triển của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940 luôn gắn liền với tên tuổi của Lương Văn Tri và nhiều chiến sỹ Cách mạng tiền bối khác như Hoàng Văn Thụ Trần Đăng Ninh, Chu Văn Tấn.... Với lòng yêu nước, nhiệt huyết Cách mạng, bản lĩnh kiên cường, trí tuệ sắc sảo, đồng chí Lương Văn Tri đã không quản ngại khó khăn gian khổ, lăn lộn với phong trào, có những đóng góp tích cực với cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn nói riêng và phong trào Cách mạng Bắc Sơn nói chung. Những nỗ lực của đồng chí trong việc xây dựng, duy trì, củng cố cơ sở quần chúng, lực lượng cách mạng đã góp phần quan trọng ghi danh khởi nghĩa Bắc Sơn vào trang sử vàng của dân tộc, đưa Bắc Sơn trở thành một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam./.

--------------------------


 

[1] . Lịch sử đấu trnh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Bắc Sơn (1930-1954). Đảng bộ huyện Bắc Sơn. 1990:

[2] Đời hoạt động Cách mạng của chí Lương Văn Tri. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Văn Quan. Tr 36.

[3] Lịch sử đấu trnh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Bắc Sơn (1930-1954). Sđd. Tr 52

[4] Lịch sử đấu trnh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Bắc Sơn (1930-1954). Sđd. Tr 58

 

Nông Đức Kiên – Chu Quế Ngân 

Lễ hội Quỳnh Sơn được tổ chức trong hai ngày 12 và 13 tháng Giêng Âm lịch hàng năm, tại xãBắc Quỳnh (trước đây là xã Quỳnh Sơn), huyện Bắc Sơn. Nổi bật trong lễ hội là những bộ trang phục của dân tộc Tày, Nùng với những điệu hát then, hát lượn, hát ví… tô thêm nét văn hóa đặc sắc cho nơi đây.

 Lh Quỳnh Sơn BS

Lễ rước kiệu trong Lễ hội Quỳnh Sơn (Ảnh TL)

Trong lễ hội diễn ra lễ rước kiệu ông Dương Tự Minh – là thủ lĩnh của Phủ Phú Lương, đất Bắc Sơn xưa, thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Trong suốt 3 đời nhà Lý: Lý Nhân Tông (1072 – 1128), Lý Thần Tông (1128 – 1138) và Lý Anh Tông (1138 – 1175). Ông là người có công lớn trong cuộc chinh chiến chống quân xâm lược nhà Tống, giữ vững vùng biên cương rộng lớn phía Bắc của nước Đại Việt hồi đầu thế kỷ thứ XII. Đồng thời ông cũng có công lớn trong việc giúp đồng bào nhân dân các dân tộc miền núi trong đó có Tổng Quỳnh, truyền dạy cho dân làng khai phá đất đai, trồng ngô khoai, cấy lúa, trồng dâu nuôi tằm, quay tơ dệt vải, dạy cho con gái biết thêu thùa, may vá, dạy cho con trai biết học chữ, biết săn thú bảo vệ mùa màng.

Tin cậy và ghi nhận công lao của ông, năm 1127 vua Lý Nhân Tông đã gả cho ông công chúa Diên Bình, đến năm 1144 vua Lý Nhân Tông lại gả công chúa Thiều Dung cho ông. Như vậy ông Quý Minh được hai lần phong Phò mã. Cuối đời ông trở về Điển Sơn (nay là núi Đuổn) và mất ở đây. Ông được nhà Lý phong sắc “UY VIÊN ĐÔN TÍNH CAO SƠN QUẢNG ĐỘ CHI THẦN”, các đời sau đều ghi hiệu ông là “CAO SƠN QUÝ MINH, QUÝ MINH ĐẠI VƯƠNG”.

Để tôn vinh và tưởng nhớ công lao của ông, nhân dân các dân tộc phương Bắc gồm các tỉnh: Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc đã lập đền thờ ông tại nhiều nơi. Nhân dân thuộc Tổng Quỳnh đã lập đền thờ ông tại Đẳng Rử thôn bên sườn núi đá nước nguồn, phía sau có Giếng Tiên (sau chuyển đến một địa điểm mới cách điểm cũ 400m về phía đông, đó là khu vực đất Đàng Lang) thuộc Quỳnh Sơn xã, Quỳnh Sơn Tổng, Phú Nhai huyện, Thái Nguyên Tỉnh, Phú Lương Phủ (nay là xã Bắc Quỳnh, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn).

Để tổ chức được lễ hội thành công, ban tổ chức lên kịch bản, sắp xếp con người và phân công cụ thể cho các thành viên từ rất sớm trước đó nhiều ngày.

Ngày 12 tháng Giêng:

Sáng sớm ngày 12 tháng Giêng (Âm lịch) làng bắt đầu khai hội. Sau khi đã chuẩn bị lễ vật xong hai ông chủ tế, 8 ông quan lễ (tiến tước) và các thầy Mo, thầy Pháp Sư sẽ tiến hành các tuần tế tại đình theo thứ tự: Lễ cúng Đức Vua, Lễ cúng Thổ Công (hai bên tả hữu), Lễ khoán an và Lễ tế nghinh thần.

Mở đầu nghi lễ ông Thầy Pháp Sư làm thủ tục đuổi ma, trừ tà đồng thời tâu sớ lên trên Thiên đình (Vua Cha, Ngọc Hoàng, Phật tổ Như Lai, Quan Âm Bồ Tát, các thần linh cai quản các phương...) mời các vị thánh thần trên thiên đình xuống với dân làng mở hội cầu mùa.

Sau đó hai ông chủ hội và 8 ông quan lễ (tiến tước) sẽ vào vị trí để chuẩn bị thực hiện các phần nghi lễ khác nhau. Sau khi đã trải qua nghi lễ cúng Đức vua và lễ cúng thổ công sẽ chuyển sang 2 nghi lễ rất quan trọng của lễ hội Quỳnh Sơn là lễ khoán an và lễ tế nghinh thần. Nội dung 2 phần lễ này cụ thể như sau:

* Lễ kin mang khoán an (gọi tắt là Lễ khoán an):

Mở đầu hai ông chủ hội sẽ vào Đình cúng và xin âm dương, sau khi xin được âm dương một người có chức quyền cao trong xã hoặc một người cao tuổi có uy tín trong làng, xã lên đứng trước bàn ăn thề đọc những lời ăn thề viết trên giấy đỏ (có nội dung kèm theo). Sau khi đọc xong dâng tờ giấy lên Đức Vua. Sau đó 1 người cắt tiết con gà giỏ vài giọt vào bát rượu. Tiếp đó lần lượt mọi người có mặt trong buổi lễ lên uống máu ăn thề và thắp một nén hương. Sau khi mọi người ăn thề xong người đọc lời ăn thề vào trong Đình lấy tờ giấy đỏ ra đốt (hóa) cùng với mâm vàng để sẵn. Đốt (hóa) xong tuyên bố kết thúc lễ kin mang khoán an.

* Lễ nghinh thần:

Nôi dung quy trình của phần tế này được thực hiện theo khẩu hiệu hô của hai thông xướng (tả - hữu, hoặc đông xướng – tây xướng). Hai ông thông xướng được lựa chọn trong 8 ông quan lễ. Bên tả hô, bên hữu đáp lại, hai ông chủ tế và 6 quan văn là người thực hiện.

* Lễ rước kiệu (quy trình đám rước):

Sau khi thực hiện xong lễ nghinh thần mọi người tất cả mọi người chuẩn bị lễ vật (đặt cỗ thủ lợn lên kiệu thay cho cỗ xôi gà lúc đầu và buộc chằng lại) để rước ra xứ đồng Nà Tấn làm lễ cúng Thần Nông). Thứ tự đám rước được quy định cụ thể

Đoàn rước kiệu đi với tốc độ bình thường không quá nhanh cũng không quá chậm. Rước từ đền làng đến cánh đồng bên kia đường. Tại cánh đồng, dừng kiệu ở vị trí đã lựa chọn và chuẩn bị sẵn lán đặt kiệu.

Khi đoàn rước kiệu đến nơi có khẩu hiệu dừng kiệu, các cháu học sinh đoàn cờ tướng sẽ theo sự chỉ đạo của bà tướng cờ tản ra thành hình vuông tạo thành hàng rào rộng bảo vệ xung quanh khu vực dừng kiệu. Lúc này kiệu được khênh vào rạp dựng sẵn, hai ông Hội lên trước kiệu thực hiện bài tế Yên vị.

Sau phần tế yên vị là phần cúng thần nông và làm lễ hạ điền. Sau khi đọc xong bài cúng ông hội cầm thẻ âm dương sẽ thực hiện nhiệm vụ xin âm dương, được sự đồng ý của thần linh sẽ tiến hành đốt (hóa) hương vàng và hô khẩu hiệu cho 6 thôn bắt đầu cày. Việc cày sẽ được thực hiện tại một đám ruộng đã được bố trí trước với 6 chiếc máy cày tượng trưng cho 6 thôn.

Ngày 13 tháng Giêng:

Đến ngày 13 tháng giêng, khoảng 4h chiều tiến hành rước kiệu về Đình. Trước tiên hai ông Chủ hội cúng với bài cúng Hồi cung xin rước thần về đền (có bài cúng riêng) sau đó thay mâm cỗ xôi thủ lợn bằng mâm cỗ xôi gà đặt lên kiệu. Thực hiện xin quẻ âm dương, được sự đồng ý của thần linh sẽ rước kiệu về đền. Nghi lễ rước về được tiến hành theo các quy trình thứ tự như khi rước đi.

Khi đến Đền đội hình rước kiệu vẫn giữ nguyên, kiệu được đưa cất trong Đình, lễ vật đặt lên ban thờ tiếp theo ông chủ tế sẽ thực hiện màn tế Hồi cung (giống với nghi lễ khi chuẩn bị rước đi, có nội dung thông xướng và chúc văn kèm theo). Bài tế thực hiện xong sẽ đốt (hóa) hương vàng và chủ tế đốt (hóa) bài văn tế báo hiệu kết thúc màn tế. Lúc này các nghi lễ trong đám rước đã hoàn thành đội hình rước kiệu tự giải tán.

          Bên cạnh phần lễ, phần hội với nhiều trò chơi dân gian, theo tín ngưỡng dân gian, những trò chơi, trò diễn trong lễ hội cầu mùa cũng là biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực - cầu mong cho vạn vật sinh sôi, nảy nở; thể hiện sự giao hòa của âm - dương, trời - đất; mối quan hệ hữu cơ của các yếu tố "Thiên thời - Địa lợi - Nhân hòa"… 

Trước khi trò chơi đánh cờ tiên diễn ra, đội cờ sẽ làm lễ kéo quân diễn hành, 2 bên quân cờ đều có 02 ông đạp đất đi đầu, tiếp theo là 02 tướng cờ, trống, chiêng và 32 quân cờ. Sau khi kéo quân xong thì tướng cờ và quân cờ vào vị trí ổn định.

Tiếp đó giám khảo công bố những quy định cùng các điều cấm theo tục lệ đánh cờ hội.

Số lượng cờ, quân cờ chia đều cho hai bên, mỗi bên 16 quân. Trong mỗi bên có một tướng (trong trang phục áo dài đỏ). Luật chơi cờ người cũng giống như cờ tướng nhưng quân cờ là người thật và bàn cờ là sân rộng, đủ đường đi nước bước cho 32 quân cờ, mỗi người đóng vai một quân cờ (tướng, sỹ, tượng, xe, pháo, mã, tốt). Khi bước vào cuộc đấu, khi muốn đi quân nào thì gõ một tiếng trống hoặc ra ký hiệu báo cho người phục vụ, người phục vụ đến bên quân cờ truyền đạt để quân cờ đứng lên đi tới vị trí được lựa chọn và xác định. Trong ngày hội, cuộc đấu cờ thường có sức hấp dẫn với các du khách, đặc biệt là các du khách lớn tuổi. Quá trình chơi có những ván rất căng thẳng kéo dài hàng tiếng đồng hồ mới kết thúc.

Đây là một môn thể thao trí tuệ thể hiện tích cách, khả năng tư duy, tầm nhìn và trình độ của mỗi người, nó rèn luyện cho con người khả năng nhìn xa, trông rộng tính cẩn thận và kiên trì, nhẫn nại…qua đó góp phần đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí, hưởng thụ văn hóa của du khách đến tham dự hội.

Múa Tán đàn là điệu múa thể hiện tính chất phác, cần cù của người lao động trong cuộc chiến đấu chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên, trời đất và ác quỷ để tạo ra sự trường tồn của cuộc sống con người và cầu mong sự linh thiêng, ứng nghiệm của trời đất giúp cho con người lấy cái thiện để thắng cái ác, lấy cần cù để thắng thiên nhiên nhằm tạo lập một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, thái bình, thịnh trị.

Trò chơi múa rối được thực hiện dưới sự chỉ huy của ông trùm rối dẫn lời và sự điều khiển của 03 người. Khi ông trùm rối dẫn lời xong thì 3 người phụ trách điều khiển rối sẽ vừa đọc hoặc hát các lời ca ngợi cung kính Đức Vua, thể hiện các lời ca chúc mừng, trước là mừng Vua, sau là mừng làng, mừng xóm, mừng nông, mừng công, mừng thương…mừng cho dân làng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, thái bình, thịnh trị vừa điều khiển con rối có những cử chỉ, hành động phù hợp với nội dung lời dẫn.

Sau khi trò múa rối kết thúc 02 người lên sân khấu vừa múa, vừa hát các bài ca ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi sự vui tươi náo nhiệt của ngày hội…Đây là hoạt động văn hóa hết sức độc đáo trong lễ hội Quỳnh Sơn, những ngày hội làng, làng vẫn tổ chức múa rối để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và cảm nhận văn hóa của nhân dân địa phương. Những lời ca, lời dẫn được vang lên từ không gian hội vừa du dương, vừa sâu lắng, đi vào lòng người như mời gọi mọi người đến chung vui. Trong không khí vui tươi náo nhiệt của ngày hội làng, lời ca, lời chúc lan tỏa trong không gian làng xóm như lan truyền không gian văn hóa hội đến mọi nơi.

Những lời ca, tiếng hát mang tính tự biên, tự diễn với nội dung ca ngợi quê hương, đất nước, ca ngợi con người, ca ngợi công lao của Thành Hoàng làng – vị thần bảo hộ của cộng đồng…qua đó tỏ lòng thành kính, tin tưởng tuyệt đối vào vị Thành Hoàng, cùng một ước vọng về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, mưa thuận, gió hòa.

Ngoài các trò chơi, trò diễn trên tại lễ hội Quỳnh Sơn còn diễn ra nhiều hoạt động phong phú và đa dạng với nhiều loại hình như: Kéo co; Đánh đu; Tung còn; Bóng chuyền (Mới được tổ chức thêm từ năm 2005); Hát ví – Hát lượn; Hát then; Múa chầu; Hát nhà tơ; Hội vật…

          Lễ hội không chỉ là điểm đến của du khách trong tỉnh mà ngày càng thu hút khách thập phương, thật sự trở thành một điểm đến trong hành trình du lịch tâm linh nơi cửa ngõ phía Bắc nước ta mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Lạng Sơn./.


                                                 Nguyễn Thu Huyền 

Giờ tham quan

+ Sáng 7h30 – 11h30

+ Chiều 13h30 – 17h

Các ngày trong tuần
(tham quan ngày nghỉ lễ, T7, CN vui lòng liên hệ trước)

Thống kê truy cập

Hôm nay 55

Tất cả 2789845

Videos

Liên kết website